Thư của bác Nguyễn Văn Đông, đơn vị thuộc Sư đoàn 5, gửi về cho em là Nguyễn Xuân Bắc - Tam Nông - Hưng Đạo - Tiên Lữ - Hưng Yên, năm 1966
Bức thư này bị lính Mỹ thu ngày 24/3/1967 tại Tây Ninh.
Ảnh chụp các bức thư
Trong sách về cụ Chơn, trích đoạn bài viết về trận 5/12/1967 này như sau: "Cuối năm 1967, một tổn thất lớn đến với sư đoàn 2. Để chuẩn bị cho chiến dịch Mậu Thân 1968, đoàn cán bộ chủ chốt gồm Bộ chỉ huy sư đoàn, cán bộ đầu ngành của 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần cùng ban chỉ huy 3 trung đoàn được triệu tập về để khảo sát thực địa. trên dải Động Mông- Đá Hàm dựa lưng vào núi Hòn Tàu, sư đoàn trưởng Lê Hữu Trữ ra lệnh cho mọi người phải về đúng vị trí của mình để có thể quan sát rõ cứ điểm Cấm Dơi và quận lỵ Quế Sơn, mục tiêu của sư đoàn cho chiến dịch tới. Đoàn cán bộ cùng các trợ lý, các trinh sát vừa nghiên cứu bản đồ, vừa quan sát thực địa suốt buổi sáng. Hai giờ chiều có một máy bay trinh sát Mỹ bay tới. Chiếc máy bay quần nhiều vòng quanh dải Động Mông – Đá Hàm, rồi nó thu hẹp vòng lượn lại. Vài phút sau từ phía đông 4 máy bay lên thẳng vũ trang HU1A ào tới. Chúng dàn hàng ngang bắn trung liên uy hiếp, có ý muốn đổ quân bắt sống cả đoàn cán bộ. Sư đoàn trưởng Trữ ra lệnh chiến đấu. Hỏa lực mạnh nhất của quân ta chỉ đến tiểu liên AK của các đồng chí vệ binh, còn nữa chỉ là súng ngắn. Trận chiến đấu không ngang sức đó kéo dài hai tiếng đồng hồ. Quân Mỹ dùng hỏa lực cày nát ngọn đồi. Quân ta chiến đấu đến viên đạn cuối cùng.Tổn thất đến với sư đoàn 2 thật to lớn. Sư đoàn trưởng Lê Hữu Trữ, chính ủy sư đoàn Nguyễn Minh Đức, cùng các cán bộ chủ chốt của 3 cơ quan tham mưu, chính trị, hậu cần, các trung đoàn trưởng 31, 21 cùng ban chỉ huy trung đoàn hy sinh. Các chiến sĩ cảnh vệ (vệ binh?), trinh sát chiến đấu ngoan cường để bảo vệ các thủ trưởng thân yêu của mình phần lớn đã ngã xuống trên dải núi này. Ngày nay nhữn người đến Quế Sơn, một địa danh với những chiến công nổi tiếng, từ thị trấn huyện lỵ nhìn dãy Động Mông – Đá Hàm đã phủ cây xanh, ít tai biết được ở đó có một trận đánh bi hùng của sư đoàn trước ngày mở màn chiến dịch Mậu Thân 1968.
Nguyễn Chơn thoát chết là do một sự tình cờ. Buổi sáng anh còn làm việc với sư đoàn trưởng Trữ. Đầu giờ chiều anh được phân công đi chuẩn bị một hướng khác, nơi dự kiến địch sẽ đổ quân phản kích. Sư đoàn trưởng rút ra 200 đồng tiền Sài gòn để anh mua thuốc hút và nói: “Ông về cũng được”. Anh dừng chân ở Sơn Long đang ăn bánh tráng thịt heo ở một nhà cơ sở, thì thấy trực thăng Mỹ bay tới. Đứng nhìn những chiếc máy bay nhào xuống nhả đạn trên đỉnh đồi, nghe những loạt đạn AK bắn trả, anh là người đầu tiên cảm nhận được sâu sắc tổn thất lớn lao mà sư đoàn phải gánh chịu."
Ngày 5/12/1967, đoàn cán bộ chuẩn bị chiến trường của Sư đoàn bị máy bay lên thẳng và bộ binh địch tập kích. Các đồng chí Sư đoàn trưởng Lê Hữu Trữ (Thạch), Chính ủy Sư đoàn Nguyễn Minh Đức (Đạo), Trung đoàn trưởng các trung đoàn 21, 31, Tham mưu phó, Chủ nhiệm hậu cần và một số cán bộ cơ quan của Sư đoàn hy sinh.
Tổn thất này là khó khăn lớn nhất của Sư đoàn trước khi bước vào chiến dịch. Trong khi đó, theo kế hoạch chung, sư đoàn lại phải rút 600 cán bộ cơ sở đi tập huấn để chuẩn bị cho Tổng công kích, Tổng khởi nghĩa. Đã thế, kế hoạch tác chiến ở hướng chủ yếu Cấm Dơi, Duơng Là đã bị địch lấy mất. Khó khăn chồng chất khó khăn.
QĐND – Hà Nội một ngày đầu xuân Tân Mão, trời hửng nắng và ấm áp, chúng tôi tìm đến nhà Trung tướng Khuất Duy Tiến ở khu tập thể 34A, Trần Phú. Vị tướng đã bước sang tuổi 81 nhưng vẫn mạnh khỏe, minh mẫn. Trong ký ức của người chỉ huy dày dạn trận mạc này vẫn còn tươi nguyên câu chuyện sôi động của trận đánh trên đồi Không Tên và cuộc vây bắt tên Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn dù ngụy trong Chiến dịch Đường 9-Nam Lào 40 năm trước…2. Mô tả và vị trí Đồi không tên:
Trận đánh trên đồi Không Tên
Đầu năm 1971, tôi được trên bổ nhiệm làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 64, Sư đoàn 320. Đang trên đường hành quân vào chiến trường Nam bộ, chúng tôi nhận được điện của Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó Tổng Tham mưu trưởng: “Trung đoàn 64 dừng hành quân đường dài, quay sang Trạm 4, Bản Đông (địa phận nam nước Lào) gặp đồng chí Trịnh Tráng, Phó tham mưu trưởng Sư đoàn 308, nhận nhiệm vụ mới”. Chúng tôi liên hệ với trạm giao liên nhờ dẫn đường, để tổ chức cho bộ đội đi xuyên rừng đến điểm hẹn. Tại đây, anh Trịnh Tráng cho biết, địch đã đổ quân xuống khu vực Bản Đông, chúng ta phải tổ chức chuẩn bị chiến đấu. Ngày 9-2, tôi và anh Trịnh Tráng dẫn cán bộ đến trinh sát địa hình ở dãy điểm cao 543. Nhưng vừa đến chân điểm cao thì máy bay địch ập đến, đổ quân và chiếm giữ luôn điểm cao này. Đạn từ trực thăng của địch bắn đúng vào đội hình của ta làm anh Trịnh Tráng bị thương vào bả vai không thể tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được. Tôi nối máy báo cáo tình hình và nhận được mệnh lệnh của Bộ: Đưa ngay lực lượng xuống chốt chặn tại đồi Không Tên (khu vực ngã 3 Cha-phi, án ngữ con đường 16 đi xuống Bản Đông, cách điểm cao 543 mà địch đã chiếm giữ gần 3km).
Tối hôm ấy, lực lượng của Tiểu đoàn 9 đã được bố trí tại đồi Không Tên. Lúc 10 giờ ngày 13-2, tôi đang ở vị trí chỉ huy ở khu đồi Không Tên thì máy bay địch đến quần lộn, đạn, pháo bắn dồn dập, bom na-pan thả cháy rực xung quanh. Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 9 báo cáo: Địch đổ quân vào đội hình của ta, đề nghị cho đánh. Tôi đồng ý và ra lệnh cho đơn vị vừa bắn máy bay vừa xung kích vào các vị trí mà địch vừa đổ quân. Tại một mỏm sát vị trí chỉ huy tiểu đoàn, nơi có một trung đội của Đại đội 9, Tiểu đoàn 9 chiếm giữ, ta và địch giằng co nhau ác liệt. Thượng sĩ Phùng Quang Thanh, Trung đội trưởng, chỉ huy bộ đội chiến đấu rất dũng cảm. Mặc dù bị thương, máu chảy ướt đẫm cánh tay nhưng anh vẫn động viên đồng đội chiến đấu kiên cường bảo vệ an toàn cho vị trí chỉ huy và bảo vệ sườn cho các mũi tấn công của đội hình Tiểu đoàn 9 (sau chiến dịch, Trung đội trưởng Phùng Quang Thanh được phong danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân, hiện nay đồng chí là Đại tướng, Bộ trưởng Bộ quốc phòng – PV). Sau 40 phút chiến đấu, ta bắt được 9 tù binh. Chúng khai là lực lượng công binh đến làm hầm chỉ huy tại đồi Không Tên. Âm mưu của địch là chiếm đồi Không Tên cùng với lực lượng ở điểm cao 543 khống chế khu vực phía Bắc Đường 9. Hai vị trí sẽ liên kết với điểm cao 500, tạo thành thế liên hoàn khống chế cả con đường 16, ngăn chặn quân ta xuống Bản Đông. Nhân cơ hội địch đang bị rối loạn, tôi ra lệnh cho các hướng mũi tiếp tục xung kích. Quần lộn với nhau đến khoảng 16 giờ thì lực lượng địch bị quân ta dồn xuống khu vực suối cạn ở bản A-la-nhay. Tối đó, Tiểu đoàn 9 tiếp tục công kích, tiêu diệt phần lớn Tiểu đoàn 6 của Lữ đoàn dù 3 ngụy. Ba ngày tiếp theo, quân ta tiếp tục truy kích, đuổi đánh tàn quân; đến ngày 16-2, ta đã làm chủ hoàn toàn đồi Không Tên, tạo bàn đạp để tiếp tục tiến đánh điểm cao 543, nơi có Sở chỉ huy Lữ đoàn dù 3 đang chiếm giữ.
Đại tá Nguyễn Văn Thọ bị bắt như thế nào?
Trước khi xây dựng phương án tác chiến, chúng tôi có 3 ngày đi trinh sát thực địa tại khu vực điểm cao 543. Tại đây, địch có Tiểu đoàn dù 3, một trận địa pháo 105mm và sở chỉ huy Lữ đoàn dù với sự chi viện tối đa của hỏa lực, không quân, pháo binh. Mặc dù mới đổ quân xuống đây chưa đầy chục ngày nhưng chúng đã kịp xây dựng một hệ thống công sự phòng ngự khá chặt chẽ, nhiều tầng lớp. 5 giờ sáng ngày 20-2, quân ta bắt đầu nổ súng nhưng không thành công vì vướng 3 hàng rào dây thép gai và sự chống trả quyết liệt của địch. Trong cuộc họp rút kinh nghiệm, chỉ huy trung đoàn quyết định thay đổi cách đánh. Theo đó, sẽ tổ chức cho bộ đội đào công sự, đánh vây, lấn. Những ngày tiếp theo, trận đánh diễn ra ác liệt, giằng co. Ta chiếm được một phần, địch phản kích chiếm lại, hôm sau ta lại tái chiếm… Đồng chí Phạm Hồng Sơn, Tham mưu phó mặt trận điện hỏi trung đoàn cần bổ sung gì? Tôi thưa, cần thêm 10 khẩu B41. Bộ tư lệnh mặt trận tăng cường thêm 6 khẩu B41 và một đại đội xe tăng 4 chiếc. Chúng tôi tổ chức cho đơn vị và các lực lượng phối thuộc đi trinh sát để nghiên cứu đường đi cho xe tăng xuất kích theo hướng Nam Đông Nam của điểm cao, hướng tiến công mới mà trung đoàn xác định là chủ yếu, xe tăng có thể cơ động được.
Một giờ chiều ngày 25-2, 4 chiếc xe tăng của ta dũng mãnh dẫn đầu đội hình tấn công cao điểm 543. Sự xuất hiện của xe tăng đã gây bất ngờ cho địch. Chúng sợ hãi, lui lại co cụm và gọi hỏa lực chi viện. Hai chiếc F4 lao đến, cắt bom. Xe tăng và pháo cao xạ 37mm của ta vừa cơ động vừa bắn máy bay. Một chiếc F4 bốc cháy, chiếc kia cũng vội vã trút bom rồi bỏ chạy. Chớp thời cơ, tôi ra lệnh cho bộ đội áp sát và tổng công kích. Quân ta tràn vào điểm cao làm cho địch bị rối loạn và vỡ trận. Đến 16 giờ 30 phút ta cơ bản giải quyết xong trận địa, chỉ còn 4 hầm địch còn ngoan cố chống cự. Với sức mạnh áp đảo, ta đã chế áp, dùng lựu đạn khói, buộc chúng phải đầu hàng, trong số này có tên Đức, Tham mưu trưởng Lữ đoàn dù 3 và 15 tên chỉ huy các cấp. Tên Trung tá Mai là Lữ đoàn phó, chạy trốn ra vạt rừng cây, cũng bị ta tiêu diệt. Tên tù binh là cần vụ, khai: Đại tá Nguyễn Văn Thọ, Lữ đoàn dù 3 có mặt và chỉ huy trực tiếp tại đây. Tôi cho anh em lùng sục, truy tìm nhưng không thấy. Đến 18 giờ, các đơn vị đều báo cáo là đã bắt hết tù binh. Nhưng ngay sau đó, đài kỹ thuật của ta vẫn nghe thấy tiếng của Đại tá Thọ gọi điện xin viện binh, pháo bắn vào căn cứ và đưa máy bay vào để cứu hắn. Tôi lệnh cho đồng chí Đông, Chính trị viên phó Tiểu đoàn 8, tiếp tục kiểm tra lại các hầm trú ẩn của địch. Đồng chí Quyết, trung đội phó và Thượng sĩ Dục nhận nhiệm vụ truy lùng tên Thọ. Đến lần thứ 3, hai anh xuống lại khu vực hầm chỉ huy của tên Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn dù ngụy thì vẫn thấy một tên nằm sấp như đã chết, đầu hắn quay vào trong, hai chân hướng ra ngoài. Sờ vào thấy hắn vẫn còn nóng. Thoáng nghi ngờ, Quyết đá vào chân và nổ súng xuống đất. Hắn vội bò dậy, tay run run nộp khẩu súng ngắn và lắp bắp nói: “Dạ, dạ tôi là Đại tá Nguyễn Văn Thọ”. Nhận được tin báo, chúng tôi mừng lắm, lệnh cho anh em giải ngay tên Thọ về sở chỉ huy. Quá trình dẫn giải tên Thọ nảy sinh ra một tình huống. Số là lúc đó lợi dụng trời tối và có mưa, khi vừa xuống tới chân điểm cao, Thọ xô ngã Trung đội phó Quyết và bỏ chạy. Rất nhanh trí, Chính trị viên phó Đông hô tập hợp một tiểu đội và hô lớn: “Toàn đơn vị truy tìm, thấy nghi ngờ là bắn bỏ”. Thọ sợ quá, lóp ngóp từ lùm cây bò ra: “Dạ, dạ, tôi đây. Tôi bị té…”.
Mặc dù quãng đường chỉ chưa đầy 3 km nhưng phải đến gần sáng hôm sau anh em mới đưa Thọ về đến Sở chỉ huy. Lúc này trông hắn thật đáng thương. Quần áo lấm lem bùn đất, tóc tai bờ phờ, người hốc hác, mắt đỏ ngầu. Tôi bảo anh em cởi trói cho Thọ và đưa đi rửa tay chân. Để cho hắn nghỉ một chút, tôi hỏi: “Anh có đói không?”. Hắn thật thà: “Dạ, có”. Tôi nhắc đồng chí cần vụ mang cơm ra. Không chút khách khí, Thọ ăn liền 3 bát. Tôi trực tiếp pha một bát sữa bột và đưa cho Thọ. Viên Đại tá, Lữ đoàn trưởng ngụy nhận bát sữa, vừa uống, vừa khóc, sau đó đã thành khẩn khai báo những tin rất cần thiết cho các trận đánh tiếp của chiến dịch…”.
Trung tướng Khuất Duy Tiến kể – Hoàng Tiến ghi
131 | Phạm Văn Quê | 21 | 16/10/1966 | Đồng Kỳ - Tứ Kỳ - Hải Dương | |||
132 | Lê Bá Thiện? | d4 | 16/10/1966 | Bình Phú - Thạch Thất - Hà Tây | |||
133 | Lê Bá Hải | 18 | 17/10/1966 | Nghĩa Trụ - Văn Giang - Hưng Yên | |||
134 | Lưu Bá Vượng | 8d5? | 18/10/1966 | Kim Xá? -?? - Vĩnh Phúc | |||
135 | Lê Đình Chiến | 8 | 19/10/1966 | Xuân Quan - Văn Giang - Hưng Yên | |||
136 | Nguyễn Văn Thụ | 11d6 | 19/10/1966 | Thanh Hà -? - Gia Lương - Hà Bắc | |||
137 | Đoàn Quốc? Dực? | 18 | 19/10/1966 | Việt Tiến - Vĩnh Bảo - Hải Phòng | |||
138 | Đoàn Văn Quân | 10d5? | 20/10/1966 | Đại Đồng? - Tứ Kỳ - Hải Dương | |||
139 | Nguyễn Văn Nhương? | 18 | 20/10/1966 | Mỹ Lương - Gia Lương - Hà Bắc | |||
140 | Phạm Tất Kháng | 17 | 20/10/1966 | Số nhà 82? - Hùng? Thao - Phú Thọ | |||
141 | Đào Văn Miên? | 10d5? | 21/10/1966 | Thọ Vực - Nghĩa Trụ - Văn Giang - Hưng Yên |
Trận phục kích của Trung đoàn 101D – Sư đoàn 1 trên QL13 ngày 12/8/1969
- Đoàn xe quân sự Mỹ bắt đầu di chuyển vào lúc 12h00 [Giờ Sài Gòn, sớm hơn giờ Hà Nội 1h] và 1 bộ phận khác di chuyển từ Dầu Tiếng. Hai đại đội bộ binh cơ giới và 1 đại đội xe tăng (thiếu) được sử dụng để bảo vệ 11.5km đường.
- Lúc 15h30, khi đoàn xe quân sự [vận tải] gồm 30 xe đi về huớng Bắc, một cống qua đường ở phía Nam trạm kiểm soát đã bị đánh sập bởi mìn có điều khiển, gây tắc 5 xe. Ngay lập tức đoàn xe bị tấn công, ước tính khoảng 3 đại đội quân Bắc Việt, từ rừng cây phía Đông và Tây của con đường. Bộ phận chính quân Bắc Việt nằm ở phía Tây con đường, cách vị trí sở chỉ huy quân Mỹ [Sở chỉ huy các lực lượng bảo vệ tuyến đường] khoảng 300 – 400m. Khi bộ phận hộ tống đoàn xe (quân cảnh và cơ giới), xe tăng, bộ binh… bắn trả lại, lực lượng Mỹ khác chi viện từ phía Nam lên. Quân Bắc Việt tiếp tục phá hủy 1 chiếc cống khác nằm ở phía Nam khu vực phục kích, cách đó độ 1km, nên các lực lượng chi viện chỉ có thể đến khu chiến sau 15 phút (Khoảng 15h45 đến 16h00).
- Các lực lượng Mỹ chi viện tiến đến khu vực phục kích (3 xe thiết giáp dẫn đầu, trung đội 1 bên cánh trái, trung đội 2 bên cánh phải, 3 xe thiết giáp mang súng cối 81mm ở giữa). Khi cách khu rừng 50m, lực lượng chi viện dừng lại và lùi lại 50m để không quân và pháo binh bắn phá vị trí quân Bắc Việt (Khoảng 16h00 đến 16h30).
- Xe công binh bắc cầu của Mỹ di chuyển đến khu vực phục kích từ phía Bắc, và thay thế cống qua đường bị đánh sập, cho phép phần còn lại của đoàn xe quân sự tiếp tục di chuyển. Lúc 17h00, các họat động hoàn tất và các đơn vị Mỹ triển khai trận địa phòng ngự ban đêm gần vị trí phục kích. Trong vài ngày tiếp theo, khu vực này trở thành Căn cứ yểm trợ hỏa lực.
- Các lực lượng Mỹ lục soát khu vực, xác định có 54 bộ đội Bắc Việt bị chết, bắt 2 tù binh, thu số lượng lớn súng AK, súng phóng lựu, đạn dược và tài liệu.
120 | Kiều Đình? Tám | 08/10/1966 | Cần Kiệm - Thạch Thất - Hà Tây | ||||
121 | Đào Đức Duật | 09/10/1966 | Yên Đồng - Ý Yên - Nam Hà | ||||
122 | Đào Văn Ga? | 10/10/1966 | Tâm Hương? - Ninh Giang - Hải Dương | ||||
123 | Vũ Văn Nhung | 11/10/1966 | Đông Quang - Quốc Oai - Hà Tây | ||||
124 | Bùi Văn Lục | 11/10/1966 | An Châu - Tiên Hưng - Thái Bình | ||||
125 | Tạ Văn Tuyến? | 12d6 | 11/10/1966 | ? - Tứ Kỳ - Hải Dương | |||
126 | Nguyễn V Đáp | 1d4 | 12/10/1966 | Tam Đình? - Bình Xuyên - Vĩnh Phúc | |||
127 | Nguyễn V Tuất | 12/10/1966 | Cổ Đông - Tùng Thiện - Hà Tây | ||||
128 | Lê Văn Ý | 12/10/1966 | Thiệu Xương - Thiệu Hóa - Thanh Hóa | ||||
129 | Nguyễn Hữu? Chúc? | 14/10/1966 | Trung Nguyên - Yên Lạc - Vĩnh Phúc | ||||
130 | Trần văn Ngôn | 2d4 | 15/10/1966 | Hải Đình - Kim Anh - Vĩnh Phúc |
Đăng nhận xét