Chủ Nhật, 10 tháng 5, 2026

[2.77] Sơ lược thông tin của phía Mỹ về Tiểu đoàn Đặc công 406 tỉnh đội KON TUM, năm 1968

2026051065108.23

SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA PHÍA MỸ VỀ TIỂU ĐOÀN ĐẶC CÔNG 406 TỈNH ĐỘI KON TUM

1.   Tiểu đoàn 406 đặc công Kontum gồm có các Đại đội 207, Đại đội 208, Đại đội 209 (Có các trung đội hỏa lực 41C, 42C, 43C).

2.   Thông tin quân đội Mỹ thì Tiểu đoàn Đặc công 406 với quân số ước tính khoảng 75 người (tháng 3/1968).

3.   Tiểu đoàn Đặc công 406 được báo cáo là trực thuộc Tỉnh đội KON TUM, tuy nhiên vẫn hoạt động dưới sự chỉ huy trực tiếp của Bộ Tư lệnh Mặt trận B3 Tây Nguyên.

4.   Tiểu đoàn 406 được báo cáo là đã có mặt tại KON TUM vào đầu năm 1966, tuy nhiên chưa được xác nhận thông tin này. Các thông tin cho thấy bộ phận của Tiểu đoàn 406 (khi đó mang phiên hiệu Đoàn 405) được thành lập vào tháng 5 năm 1967 tại THANH HÓA.

Giữa tháng 5 và tháng 9 năm 1967, đơn vị tiếp tục nhận tân binh và tiến hành các bài tập huấn luyện sử dụng trang bị đặc công.

5.   Vào tháng 9 năm 1967, Tiểu đoàn Đặc công 405 chi viện vào miền Nam dưới phiên hiệu Đoàn chi viện 405. Điểm đến của đơn vị vào thời điểm đó là Mặt trận B3 Tây Nguyên.

Sau đó khoảng 30 cán bộ và chiến sĩ đã được chuyển về Bộ Tư lệnh Mặt trận B-3 và 41 người dân tộc thiểu số đã được đơn vị tiếp nhận từ các đơn vị bộ đội địa phương.

Cũng vào tháng 12 năm 1967, phiên hiệu của đơn vị được đổi thành Tiểu đoàn Đặc công 406 thuộc Tỉnh đội KON TUM.

6.   Vào ngày 25 tháng 1 năm 1968, tiểu đoàn nhận lệnh bắt đầu chuẩn bị cho các chiến dịch tấn công vào Thành phố KON TUM. Cuộc tấn công được lên kế hoạch cho dịp TẾT. Đại đội 207 có nhiệm vụ tấn công Chi khu Kontum, Đại đội 208 có nhiệm vụ tấn công Ban chỉ huy Cảnh sát Quốc gia, và Đại đội 209 có nhiệm vụ tấn công Văn phòng Ngân hàng Tỉnh.

7.   Trong cuộc tấn công, Tiểu đoàn Đặc công 406 đã chịu tổn thất rất nặng nề, có thể lên tới 80% quân số hy sinh. Các bộ phận của đơn vị được tin là đã rút khỏi vùng lân cận thành phố để tập hợp và tái trang bị. Kể từ tháng 2 năm 1968, đơn vị đã tránh các trận giao chiến.

8.   Đại đội 207 được báo cáo là bao gồm nhiều là người dân tộc thiểu số, có thể là những người đã gia nhập đơn vị vào tháng 12 năm 1967 ở phần phía bắc của tỉnh KON TUM.

9.   Các Đại đội 208 và 209 được báo cáo là bao gồm quân nhân quê ở miền Bắc Việt Nam. Đoàn chi viện 314 cũng cung cấp nhân sự cho các Đại đội 208 và 209. 

10. Vũ khí của Tiểu đoàn Đặc công 406 được báo cáo là bao gồm súng B-40, AK-47, SKS, bộc phá ống và chất nổ TNT.

 

 

ĐƠN VỊ

BÍ DANH

NHÂN SỰ

Tiểu đoàn Đặc công 406/KON TUM

Tiểu đoàn trưởng: Thượng úy NGUYEN HUNG (Hy sinh 30/1/1968)

Tiểu đoàn phó: Đã hy sinh

Chính trị viên: Đại úy NGUYEN VAN NHIEU

Đại đội 207/Tiểu đoàn 406

Đại đội 1

Đại đội trưởng: Trung úy PHU

Đại đội 208/Tiểu đoàn 406

Đại đội 2

Đại đội trưởng: Thượng úy CANH

Đại đội phó: Trung úy NGUYEN VAN PHUONG

Chính trị viên: Trung úy MINH

Đại đội 209/Tiểu đoàn 406

Đại đội 3

Đại đội trưởng: Thượng úy LONG (Hy sinh 31/1/1968)

Đại đội phó: Trung úy KHUONG (Hy sinh 31/1/1968)

Chính trị viên: Trung úy NHAN (Hy sinh 31/1/1968)

Chính trị viên phó: Trung úy LIEU

 


Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

[2.76] Sơ lược thông tin của phía Mỹ về Tiểu đoàn 401 đặc công Daklak

2026042781123.23


SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA PHÍA MỸ VỀ TIỂU ĐOÀN 401 ĐẶC CÔNG DAKLAK

1.     Tiểu đoàn 401 đặc công được thành lập vào tháng 12 năm 1967 bằng cách hợp nhất các đại đội địa phương huyện H6, H8 và H10.

Tiểu đoàn 401 đặc công lần đầu tiên được xác định trong các cuộc tấn công phối hợp vào thành phố Ban Mê Thuột dịp Tổng tấn công Tết năm 1968. Sau Tết, đơn vị rút khỏi thành phố và trải qua một giai đoạn tổ chức lại và huấn luyện, tập trung vào kỹ thuật tác chiến đặc công.

Vào tháng 10 năm 1968, tiểu đoàn 401 đã tiến hành các cuộc tấn công vào sân bay tại thành phố Ban Mê Thuột và làng Quảng Nhiêu.

Trong giai đoạn 1969-1970, tiểu đoàn 401 đóng quân tại đồn điền Mewal và liên tục mục tiêu tấn công vào thành phố Ban Mê Thuột và khu vực lân cận.

2.     Trong thời gian cuối năm 1970, hiệu quả hoạt động của tiểu đoàn 401 bị giảm sút do thiếu hụt quân số, vấn đề huấn luyện, sức khỏe và lương thực. Bất chấp những vấn đề này, tiểu đoàn 401 vẫn tham gia các cuộc tấn công vào thành phố Ban Mê Thuột.

Vào cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2 năm 1971, tiểu đoàn 401 đã tiếp nhận thêm quân số chi viện, nâng quân số của tiểu đoàn lên 250 người.

Tiểu đoàn 401 sau đó được chia thành hai bộ phận. Một trong những bộ phận này, bao gồm đại đội 307 và đại đội 308, đã được điều đến khu vực H3 để hỗ trợ các đơn vị khác trong các cuộc tấn công dọc theo đường liên tỉnh 7B tại quận Phú Thiện, tỉnh Phú Bổn. Hiện tại, bộ phận này được cho là vẫn còn ở tỉnh Phú Bổn.

Bộ phận thứ hai, bao gồm đại đội 306 và đại đội 310, vẫn ở lại căn cứ 238 và hiện đang nhắm mục tiêu tấn công vào thành phố Ban Mê Thuột.

Vào giữa tháng 4 năm 1971, một đại đội địa phương quân Sài Gòn có chiêu hồi dẫn đường đã phát hiện hai kho lương thực chứa 20 tấn gạo.

3.     Đại đội 307 và đại đội 308 có thể sẽ tái hợp với đại đội 306 và đại đội 310 tại căn cứ 238 ngay sau khi chiến dịch Phú Thiện hoàn thành. Sau đó, dự đoán tiểu đoàn 401 sẽ tiếp tục các hoạt động quanh thành phố Ban Mê Thuột và khu vực lân cận.

4.     Nhân sự chủ chốt Tiểu đoàn 401 đặc công

ĐƠN VỊ

QUÂN SỐ

NHÂN SỰ CHỈ HUY

Tiểu đoàn 401 đặc công

250

Tiểu đoàn trưởng - Đại úy Nguyễn Xuân Bảo; Tiểu đoàn phó - Thượng úy Lãnh; Chính trị viên - Đại úy Bảo Đồng; Chính trị viên phó - Trung úy Nguyễn Đình Du; Chính trị viên phó - Trung úy Võ Thượng; Tham mưu trưởng - Trung úy Hồ Tri

Đại đội 306

Đại đội trưởng - Trung úy Nhu; Đại đội phó - Thiếu úy Tuy; Chính trị viên - Thiếu úy Hay

Đại đội 307

Đại đội trưởng - Thiếu úy Nguyễn Xuân Vạn; Đại đội phó - Chuẩn úy Vũ Đức; Chính trị viên - Thục; Chính trị viên phó - Nguyễn Mạnh Hùng

Đại đội 308

Đại đội trưởng - Thiếu úy Yên; Đại đội phó - Thiếu úy Cao; Chính trị viên - Thiếu úy Thủy; Chính trị viên phó - Thiếu úy Thọ

Đại đội 310

Đại đội trưởng - Thiếu úy Đạo; Đại đội phó - Chuẩn úy Mười; Chính trị viên - Thiếu úy Thâu; Chính trị viên phó - Thiếu úy Mùi

BỘ PHẬN Y TẾ

Bác sĩ - Thiếu úy Vũ Văn Tỉnh; Bác sĩ - Lê Tấn Lợi; Y tá - Gót; Y tá - Tân

PHÂN ĐỘI THÔNG TIN

Chỉ huy - Nhị;

PHÂN ĐỘI TRINH SÁT, QUÂN BÁO

Chỉ huy - Mạnh; Chỉ huy phó - Xíu

  

Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2026

[2.75] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về chặng đường hành quân vào Nam chiến đấu (miền Đông Nam Bộ) của những người lính Quân đội Nhân dân Việt Nam, khoảng năm 1970

SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ VỀ CHẶNG ĐƯỜNG HÀNH QUÂN VÀO NAM CHIẾN ĐẤU (MIỀN ĐÔNG NAM BỘ) CỦA NHỮNG NGƯỜI LÍNH QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM, KHOẢNG NĂM 1970

2026041872113.58

1.   Chuẩn bị ban đầu

-    Sau một thời gian huấn luyện cơ bản về quân sự, bộ đội bắt đầu huấn luyện sức bền theo chương trình để chuẩn bị cho những gian khổ của chuyến đi dài vào miền nam chiến đấu. Việc huấn luyện này bao gồm các cuộc hành quân dài, ngày và đêm, mang theo tải trọng nặng dần lên đến 40 kg.

-    Trong các cuộc hành quân này, một số hướng dẫn có thể được đưa ra về phương pháp băng qua các khu vực trống trải (đi nhanh và tăng khoảng cách giữa các cá nhân), và hành động cần thực hiện khi giao chiến (chia nhỏ và ẩn nấp) hoặc nếu bị pháo kích hoặc không kích (phân tán).

-    Bộ đội được biết thời điểm sẽ bắt đầu xuất phát vào nam chi viện trước khi xuất phát một vài tuần. Trong một số trường hợp, một buổi lễ sẽ được tổ chức để vinh danh sự kiện xuất phát của đơn vị bộ đội. Trong một số trường hợp, sự kiện này đơn giản chỉ là kéo dài một trong các cuộc hành quân huấn luyện sức bền thành việc bắt đầu xuất phát chi viện vào miền Nam.

-    Bộ đội nhận được Giấy chứng minh vào thời điểm này; những giấy này có thể được cấp cho cá nhân hoặc do cán bộ giữ. Nhóm không được thông báo trước về lộ trình sẽ thực hiện trong quá trình chi viện cũng như điểm đến chính xác của họ.

 

2.   Tổ chức và Trang bị

-    Quy mô của các đoàn chi viện thay đổi, thường trung bình từ 500 - 600 người lính. Nhóm giữ nguyên cấu trúc quân sự cơ bản của mình, được tổ chức thành các tiểu đội, trung đội, đại đội và tiểu đoàn dưới sự kiểm soát của một Ban chỉ huy Đoàn.

ĐOÀN CHI VIỆN (cỡ Tiểu đoàn)

500 – 600 người

Ban chỉ huy đoàn

5 – 14 người

Các Đại đội (thường là 4 đại đội)

120 - 160 người lính mỗi đại đội

Các Trung đội (trong mỗi đại đội)

30 – 40 người lính mỗi trung đội

Các Tiểu đội (trong mỗi trung đội)

10 – 12 người lính mỗi tiểu đội

 

-    Trong quá khứ, nhiều nhóm đã đi vào phía nam với tối thiểu một hoặc hai người mỗi tiểu đội được trang bị súng AK-47 hoặc SKS, số nhân sự còn lại đã để lại vũ khí trước khi khởi hành. Tuy nhiên, xét đến các vấn đề hậu cần hiện tại, có khả năng tất cả những người lính chi viện ít nhất sẽ được trang bị một khẩu AK-47 (cơ số đạn 200 - 300) hoặc SKS (cơ số đạn 150 - 200).

-    Các trang bị sau đây, hầu hết được sản xuất tại phía bắc, được cấp cho mỗi người lính chi viện: Hai bộ quân phục, Một thắt lưng đạn, Hai đôi tất, Hai bộ đồ lót, Một mũ, Một đôi dép cao su, Một ba lô, Một áo mưa, Một đôi giày vải, Một lều?, Một bát ăn cơm, Bộ sơ cứu, Một màn chống muỗi, Hai lựu đạn, Một bình tông có bao đựng, Một võng, Một thắt lưng lựu đạn, Một thắt lưng gạo, Một khăn tắm, Ba xẻng và Ba nồi nấu ăn mỗi tiểu đội.

-    Ngoài ra, các vật dụng vệ sinh cá nhân như xà phòng, kem đánh răng và bàn chải, lược, v.v. cũng được cấp. Hầu hết binh lính cũng giữ nhật ký, thường được trang trí đẹp mắt, ghi lại những suy nghĩ và sự kiện hàng ngày.

-    Ước đoán các trang bị cá nhân và vật dụng cá nhân được liệt kê ở trên nặng khoảng 12kg. Khi trọng lượng của vũ khí cá nhân (AK-47), cơ số đạn cơ bản và hai quả lựu đạn được thêm vào, tổng tải trọng mà mỗi người lính chi viện mang theo, bao gồm cả thực phẩm, là gần 25kg.

 

3.   Cung cấp thực phẩm

-    Trước khi xuất phát chi viện vào Nam, mỗi cá nhân thường được cung cấp một số thực phẩm sinh hoạt cơ bản gồm: (1) Đường, sữa bột và muối, 1/2 đến 1 kg; (2) Bột ngọt 0.1 kg; (3) Thịt khô hoặc thịt hộp 1 đến 3 kg; (4) Cá khô 1 kg; (4) Gạo 3 đến 4 kg.

-    Việc tái cung cấp gạo và các mặt hàng khác, như đậu và rau xanh, được thực hiện sau mỗi 4 đến 5 ngày tại các trạm giao liên gần đó. Việc tìm kiếm thức ăn và đánh cá… giúp bổ sung cho khẩu phần gạo 700 gram hàng ngày.

-    Ngoài ra, việc trao đổi với người dân địa phương dọc theo lộ trình giúp giảm bớt sự thiếu hụt thực phẩm.

-    Vào cuối hành trình, mỗi người lính có khoảng 2kg thực phẩm còn lại; hầu hết ăn các mặt hàng nặng hơn trong đợt cấp phát ban đầu sớm trong chuyến đi để giảm tải trọng họ đang mang. Mặc dù một số thực phẩm được cấp trong chuyến đi có thể kém chất lượng, nhưng có những dấu hiệu cho thấy không có sự thiếu hụt nào xảy ra.

-    Do những khó khăn hậu cần hiện tại, có khả năng những người lính chi viện sẽ bắt đầu cuộc hành trình với khẩu phần tăng thêm, hoặc nhận được ít hơn trên đường đi. Cũng có khả năng những người dân địa phương sống gần các con đường chi viện có thể được tổ chức thường xuyên để cung cấp thực phẩm cho các nhóm, thông qua các trạm giao liên.

 

4.   Các biện pháp phòng ngừa dịch bệnh

-    Để chống lại bệnh tật trong chuyến đi, các cá nhân được cấp một bộ sơ cứu thường có: Thuốc chống sốt rét (thường là nivaquine), viên Vitamin B-1, Viên Vitamin C, Viên lọc nước, Thuốc xua đuổi côn trùng, Băng gạc, Các ống thuốc để sử dụng chống lại các cuộc tấn công bằng khí độc.

-    Sốt rét là căn bệnh phổ biến nhất mà những người lính chi viện phải đối diện. Việc sử dụng thuốc xua đuổi côn trùng và màn chống muỗi vào ban đêm được cán bộ nhấn mạnh và kiểm tra. Thuốc chống sốt rét có thể được uống 3 đến 4 lần một tuần, hoặc nếu thiếu hụt, uống vào lúc bắt đầu một đợt sốt rét. Các trường hợp nặng được tiêm thuốc từ quân y của nhóm và có thể được để lại tại các trạm giao liên để điều trị. Các trường hợp nhẹ tiếp tục hành quân cùng nhóm.

-    Để tránh bệnh đường ruột, nước uống được đun sôi hoặc xử lý bằng viên lọc nước; tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, biện pháp phòng ngừa sau này không được tuân thủ do mùi hăng và vị nồng của các viên thuốc.

 

5.   Kỷ luật hành quân

-    Trong chuyến đi vào phía nam, Đoàn di chuyển theo hàng một với khoảng cách một mét giữa các cá nhân. Khoảng cách lớn hơn có thể được duy trì giữa các đại đội và tiểu đoàn. Các giao liên dẫn dắt nhóm với một tổ trinh sát đi trước tiểu đoàn đầu tiên khoảng 50 mét. Tổ trinh sát đánh dấu các lối rẽ để giữ cho nhóm đi đúng lộ trình; những dấu hiệu này được xóa đi bởi một tổ tương tự đi ở phía sau đội hình.

-    Trong một số trường hợp, tiểu đoàn trưởng sẽ dẫn dắt đội hình chính; thường xuyên hơn, cùng với tiểu đoàn phó sẽ đi cùng với đại đội trưởng và đại đội phó của đại đội đi đầu phía sau tiểu đoàn đầu tiên. Tiểu đoàn phó và Chính trị viên phó tiểu đoàn thường đi ở phía sau nhóm.

-    Liên lạc trong nhóm được thực hiện bởi các chiến sĩ chạy giấy hoặc bằng cách truyền tin nhắn bằng lời nói từ người này sang người khác. Các đợt nghỉ giải lao 10 phút được thực hiện sau mỗi giờ hành quân. Sau 4 đến 5 ngày hành quân, nhóm có thể được nghỉ một ngày hoàn toàn.

-    Một cuộc họp được tổ chức mỗi đêm giữa các chỉ huy và nhân viên trạm giao liên để phối hợp các hoạt động của ngày hôm sau.

-    Lịch trình điển hình trong ngày

Thời gian

Hoạt động

05h00

Báo thức

05h00 đến 05h30

Vệ sinh cá nhân

05h30 đến 06h00

Ăn sáng

06h00 đến 14h00

Hành quân

14h00 đến 17h00

Trú quân

17h00 đến 20h00

Ăn tối và nghỉ ngơi

20h00

Đi ngủ

 

6.   Nghỉ đêm

-    Các đoàn chi viện nghỉ đêm tại các địa điểm đã chuẩn bị trước, thường là các khu vực đã được phát quang mặt đất với kích thước từ 200 đến 500 mét mỗi cạnh, thường bố trí gần suối.

-    Các hầm hoặc hố cá nhân thường được đặt ở ngoại vi cùng với các hố vệ sinh. Trong trại đã phát quang là các địa điểm nấu ăn, điểm để rác, và các khung mắc võng.

-    Thông thường, Ban chỉ huy đoàn chi viện sẽ được đặt ở trung tâm của địa điểm với các đại đội xung quanh chu vi. Bản thân trại sẽ được đặt gần đường chi viện nhưng hiếm khi gần trạm giao liên hoặc gần các kho thực phẩm.

-    An ninh tại địa điểm cắm trại thường được cung cấp bởi một lính gác cho mỗi đại đội, thay đổi từng giờ. Nhân sự không được phép rời khỏi khu vực nghỉ đêm trừ khi được giao nhiệm vụ cụ thể.

 

7.   Lộ trình

-    Các đơn vị di chuyển ở miền Bắc bằng thuyền, tàu hỏa, xe tải, hoặc kết hợp cả ba, đến các điểm cuối tại QUẢNG BÌNH. Từ đó, nhóm di chuyển bằng đường bộ trong 2 đến 3 ngày qua dãy núi TRƯỜNG SƠN và vào LÀO.

-    Ít người lính chi viện có thể mô tả lộ trình của họ, được báo cáo là không được đánh dấu bằng bất kỳ dấu hiệu đặc biệt nào, vì phần lớn thời gian của họ là ở trong rừng nhiều tầng tán, và cán bộ hoặc dẫn đường rõ ràng không phổ biến cho nhóm về tiến trình hàng ngày hoặc hàng tuần của họ.

-    Do đó, các ký ức mập mờ và ít người nhớ lại được nhiều hơn ngoài tình trạng chung của các địa điểm cắm trại, đi bộ dọc theo những con đường mòn, và vượt qua những con sông không thể lội qua nếu không có xuồng.

-    Mặc dù một số tiếp xúc có thể được thực hiện với người dân địa phương dọc đường, rào cản ngôn ngữ khiến những người lính chi viện khó học được vị trí chính xác của họ.

 

8.   Tinh thần

-    Hầu hết các báo cáo tình báo cho thấy những người lính có tinh thần cao trong chặng đường hành quân.

-    Hầu hết những người lính hành quân vào nam đã được giáo dục kỹ lưỡng về chính trị, mục tiêu cuối cùng là giải phóng miền Nam.

-    Với việc Campuchia năm 1970 đang là chiến trường, việc cung cấp lương thực, thực phẩm có thể không sẵn có như trước đây.

-    Ngoài ra, Quân đội Nhân dân Việt Nam có thể cố gắng giảm bớt căng thẳng cho hệ thống cung ứng của mình ở miền Nam bằng cách tăng trọng lượng mang theo của người lính chi viện. Ví dụ, nếu tải trọng của mỗi cá nhân trong một đoàn chi viện 600 người được tăng thêm 5kg, Đoàn có thể mang theo 180.000 viên đạn AK-47, hoặc 1.800 viên đạn cối 60mm. Trường hợp như vậy chắc chắn sẽ làm tăng thêm những gian khổ trong chặng đường hành quân của người lính chi viện.

 

9.   Kết thúc hành trình

-    Chuyến đi từ phía bắc đến khu vực Bộ Tư lệnh Miền thường mất từ 90 đến 120 ngày, điểm đến cuối cùng có thể thay đổi tùy tình hình thực tế.

 

BẢNG THỜI GIAN DI CHUYỂN TỪ THÀNH PHỐ VINH

(ĐIỂM ĐẦU HỆ THỐNG GIAO LIÊN CỦA ĐOÀN 559)


Đến trạm/khu vực

Thời gian (Ngày)

T31 (Đất Lào)

20

T74 (Vùng Ba biên giới, cuối đường giao liên Đoàn 559, đầu hệ thống giao liên Mặt trận B3)

30

T19 (cuối hệ thống giao liên Mặt trận B3, đầu hệ thống giao liên Chiến trường B2)

21

A8 (Khoảng Quảng Đức)

10

K1 (Phước Long)

9

Tổng cộng

90 ngày

 

-    Trước đây, các đoàn chi viện đã đến các điểm đến tại PHƯỚC LONG, TÂY NINH, khu vực KREK-MIMOT, hoặc SVAY RIENG, Campuchia. Tuy nhiên, vì sự gián đoạn của các khu căn cứ của Quân Giải phóng miền Nam tiếp giáp với biên giới, và tiếp tục các hoạt động của Quân đội Mỹ/Sài Gòn tại Campuchia, có khả năng các đoàn chi viện sẽ kết thúc hành trình của họ sâu hơn ở đất Campuchia.

-    Sau khi đến điểm cuối, những người lính trong Đoàn chi viện chờ đợi lệnh phân chia về các đơn vị. Thời gian chờ đợi có thể thay đổi từ chỉ vài ngày đến hàng tháng. Thời gian này thường giành để hồi phục sau thời gian dài gian khổ của chuyến đi.

-    Trước đây, việc huấn luyện cá nhân không được bắt đầu cho đến khi người lính đến được đơn vị biên chế. Nếu được chỉ định vào một trong ba sư đoàn chủ lực Miền, người lính có thể dự kiến trải qua một đến hai tháng huấn luyện tại Đại đội huấn luyện của sư đoàn. Tuy nhiên, có trường hợp người lính chi viện mới đến đã được đưa ngay vào đơn vị chiến đấu, tùy theo tình hình cụ thể.