Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

[2.70] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về một số tiểu đoàn bộ binh biên chế về chiến đấu tại Quảng Trị và Thừa Thiên

2026022444113.23


 SƠ LƯỢC THÔNG TIN VỀ MỘT SỐ TIỂU ĐOÀN BỘ BINH BIÊN CHẾ VỀ CHIẾN ĐẤU TẠI QUẢNG TRỊ VÀ THỪA THIÊN

1. Các Tiểu đoàn Độc lập

Đây là các đơn vị vào chiến trường sớm hoặc hoạt động độc lập trước khi biên chế vào đội hình đơn vị chính quy cấp Trung đoàn hoặc tương đương:

  • Năm 1961: Tiểu đoàn 800 vào chiến trường.
  • Năm 1964: Tiểu đoàn 802Tiểu đoàn 804 vào chiến trường.
  • Năm 1965: Biên chế Tiểu đoàn 802 hoạt động độc lập.

2. Tỉnh đội Quảng Trị

  • Năm 1965: Biên chế Tiểu đoàn 808, Tiểu đoàn 814 (mới vào chiến trường) và đơn vị Đặc công K-10.
  • Năm 1966: Tiếp tục biên chế Tiểu đoàn 808, Tiểu đoàn 814 và đơn vị Đặc công K-10.

3. Tỉnh đội Thừa Thiên

  • Năm 1965: Biên chế Tiểu đoàn 804, Tiểu đoàn 810 (mới vào chiến trường) và Đơn vị Thành đội Huế.
  • Năm 1966: Tiếp tục biên chế Tiểu đoàn 804, Tiểu đoàn 810Đơn vị Thành phố Huế.
  • Đầu năm 1967: Tiếp tục biên chế Tiểu đoàn 804, Tiểu đoàn 810Đơn vị Thành đội Huế.

4. Trung đoàn 6

  • Năm 1965: Biên chế Tiểu đoàn 800, Tiểu đoàn 806Tiểu đoàn 812 (Tiểu đoàn 812 bị giải thể vào tháng 4/1966).
  • Năm 1966: Biên chế Tiểu đoàn 800, Tiểu đoàn 802Tiểu đoàn 806.
  • Đầu năm 1967: Tiếp tục biên chế Tiểu đoàn 800, Tiểu đoàn 802Tiểu đoàn 806.
  • Giữa năm 1967: Biên chế Tiểu đoàn 800, Tiểu đoàn 815 (đổi tên từ Tiểu đoàn 802), Tiểu đoàn 806Tiểu đoàn 810 (phối thuộc).
  • Cuối năm 1967: Biên chế Tiểu đoàn 800, Tiểu đoàn 820 (Tiểu đoàn 3 của 802), Tiểu đoàn 806 và đơn vị Đặc công K-12.
  • Đầu năm 1968: Biên chế Tiểu đoàn 800, Tiểu đoàn 802 (số hiệu 820), Tiểu đoàn 806, Tiểu đoàn 816 (phối thuộc) và đơn vị Đặc công K-12.
  • Giữa năm 1968: Biên chế Tiểu đoàn 800, Tiểu đoàn 802 (số hiệu 820), Tiểu đoàn 806 và đơn vị Pháo binh K-35.

5. Trung đoàn 5 cũ

  • Đầu năm 1967: Biên chế Tiểu đoàn 816 (số hiệu 416 - mới), Tiểu đoàn 808, Tiểu đoàn 814 và đơn vị Đặc công K-10.
  • Giữa năm 1967: Tiếp tục biên chế Tiểu đoàn 808, Tiểu đoàn 814, Tiểu đoàn 816 và đơn vị Đặc công K-10.

6. Trung đoàn 4

  • Giữa năm 1967: Biên chế Tiểu đoàn 804 (số hiệu 74A) và Tiểu đoàn 802 (số hiệu K4B).
  • Cuối năm 1967: Biên chế Tiểu đoàn 802 (K4B) và Tiểu đoàn 822 (số hiệu K4C - mới vào chiến trường).
  • Đầu và giữa năm 1968: Tiếp tục biên chế Tiểu đoàn K4B (Tiểu đoàn 802)Tiểu đoàn K4C (Tiểu đoàn 822).

7. Trung đoàn 5 mới

  • Cuối năm 1967: Biên chế Tiểu đoàn 804, Tiểu đoàn 810, Tiểu đoàn 815Đặc công Thành phố Huế.
  • Đầu năm 1968: Biên chế Tiểu đoàn 804, 810, 815, 818; các đơn vị Pháo binh K-32 & K-33; Đặc công Thành phố Huế (K-21).
  • Giữa năm 1968: Biên chế Tiểu đoàn 804, Tiểu đoàn 810, đơn vị Pháo binh K-32, Đặc công Chi Thừa IĐặc công Chi Thừa II.

8. Trung đoàn 9

  • Đầu năm 1967: Tiếp nhận và biên chế các đơn vị mới vào chiến trường: Tiểu đoàn 815, 816, 818, 820Tiểu đoàn 822.
  • Giữa năm 1968: Ổn định biên chế gồm có: Tiểu đoàn 815 (Tiểu đoàn 1), Tiểu đoàn 818 (Tiểu đoàn 2) và Tiểu đoàn 816 (Tiểu đoàn 3).

9. Mặt trận 9

  • Cuối năm 1967: Biên chế Tiểu đoàn 808, Tiểu đoàn 814, Tiểu đoàn 816, Tiểu đoàn 818 và đơn vị Đặc công K-10.

10. Mặt trận 7

  • Đầu năm 1968: Biên chế Trung đoàn 812 (gồm các tiểu đoàn 4, 5, 6), Tiểu đoàn 808, Tiểu đoàn 814, Đặc công K-10Trung đoàn Pháo binh 1/84.
Giữa năm 1968: Tiếp tục biên chế đội hình trên, thêm tiểu đoàn 1 Trung đoàn Pháo binh 84 (còn gọi là K-32).

Thứ Ba, 17 tháng 2, 2026

[2.69] Đoàn 81 hậu cần - Cục Hậu cần Miền: Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ

2026021769105.16 


SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ VỀ ĐOÀN 81 HẬU CẦN (CỤC HẬU CẦN MIỀN)


1. SƠ LƯỢC

a. Đoàn Hậu cần 81 được cho là đã được thành lập vào giữa năm 1964 (tháng 6) với tên gọi Đoàn U-50. Đoàn được giao nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động của tất cả các đơn vị và cơ quan hoạt động trong và xung quanh Chiến khu D.

b. Một báo cáo năm 1967 cho biết phiên hiệu đơn vị đã thay đổi thành Đoàn 30 vào cuối năm 1965 hoặc đầu năm 1966, và đến giữa năm 1966 lại đổi thành Đoàn Hậu cần 81.

c. Đoàn 81 đã hoạt động liên tục từ các căn cứ ở Chiến khu D và tại nhiều thời điểm khác nhau đã hỗ trợ cho các Sư đoàn 5, 7 và 9 cũng như Trung đoàn Đồng Nai. Hiện tại, đơn vị này đang hỗ trợ Sư đoàn 5 và Trung đoàn Đồng Nai.

d. Thông tin năm 1968 cho thấy Bộ Chỉ huy Đoàn có khả năng đã di chuyển cùng với việc di chuyển đồng thời các kho bãi chính và bãi đậu xe.

e. Có thông tin đầu năm đầu năm 1969 cho biết Bộ Chỉ huy Đoàn đã di chuyển về phía Tây, rời xa các khu vực đông dân cư để hướng về phía Đông Nam tỉnh Bình Long.

2. KHẢ NĂNG CHIẾN ĐẤU

Đoàn 81 không phải là một đơn vị chiến đấu chủ lực. Một trong những chiến thuật phổ biến của đơn vị là sử dụng mạng lưới bẫy chông và mìn dày đặc. Chiến thuật này mang tính chất phòng thủ nhằm ngăn cản các cuộc càn quét của quân đồng minh tìm kiếm căn cứ và kho tàng.

Đoàn 81 cũng có các lực lượng an ninh bảo vệ nội bộ trong khi các bộ phận khác thực hiện nhiệm vụ hậu cần.

3. HẬU CẦN

a. Việc thu mua lương thực liên quan trực tiếp đến người dân địa phương. Đoàn 81 không gặp khó khăn trong việc thu mua. Việc thanh toán được thực hiện từ nguồn kinh phí do cấp trên cấp.

b. Đoàn 81 duy trì liên lạc chặt chẽ với Đoàn 84, Đoàn 86 và Đoàn 70. Các đơn vị này cung cấp phần lớn vũ khí và đạn dược cho Đoàn 81. Ngược lại, Đoàn 81 cung cấp gạo cho các đơn vị đó.

c. Đoàn 81 tận dụng tốt các đường thủy để tạo chướng ngại vật chống thiết giáp quân đồng minh. Họ thường cất giấu quân nhu trong các hầm cách mép nước khoảng 700 đến 800 mét. Đoàn cũng sử dụng xe bò, xe đạp thồ, xe tải và dân công.

d. Một số đơn vị trực thuộc đã được khen ngợi vì thành tích sản xuất quân phục, bao đựng vũ khí, giày dép, đạn dược và lựu đạn. Đoàn cũng tự trồng được một phần lúa gạo.

e. Giai đoạn tháng 2 - tháng 3 năm 1968, đơn vị đã huy động 1.300 dân công từ các huyện Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu và Tân Uyên để vận chuyển vũ khí từ Chiến khu D về vùng ven Sài Gòn.

4. Ghi nhận: Đoàn có một Trường Quân y huấn luyện về điều trị nội thương, ngoại khoa, giải phẫu, sinh lý học và hệ thần kinh.

5. NHIỆM VỤ

a. Tổng quát

Cung cấp hậu cần và y tế cho các Sư đoàn 5, 7, 9 và Trung đoàn Đồng Nai tại Chiến khu D. Phối hợp hỗ trợ với các Đoàn Hậu cần 83, 84, 86 và 70.

b. Cụ thể

  • Giữ thông suốt tuyến đường tiếp tế cho Đoàn 86.
  • Thu mua và phân phối quân nhu tại Bình Dương, Phước Long và Chiến khu D.
  • Hỗ trợ Trung đoàn Đồng Nai và Sư đoàn 5.
  • Vận chuyển quân nhu nội bộ Đoàn.
  • Giữ thông suốt các tuyến giao liên nội bộ.
  • Bảo dưỡng phương tiện và thiết bị.
  • Quản lý 3 bệnh viện thuộc biên chế.

6. ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG

Chiến khu D, Nam tỉnh Phước Long, Phân khu 5 và Nam tỉnh Bình Long.

 

7. NHÂN SỰ CHÍNH

Chỉ huy trưởng Đoàn 81

LÊ MINH THỊNH

Chỉ huy phó Đoàn 81

NGUYỄN MỸ

Chính ủy Đoàn 81

NGUYỄN HỮU HỒ

Trợ lý Chính ủy Đoàn 81

HỒ THẮNG

Trưởng ban Quân lực

TRẦN QUANG VINH

Trưởng ban Quân y

NGUYỄN VĂN LÃNH (NGUYỄN VĂN HÓA)

Chỉ huy trưởng C11

NGUYỄN VĂN DỤC

Chỉ huy trưởng C2

MƯỜI NHƠN

Chỉ huy trưởng C12

NGUYỄN BÀNG

Chỉ huy trưởng C16

THÀNH THÂN GIANG

Chỉ huy trưởng V11

NGUYỄN VĂN DỤC

Chỉ huy trưởng K11

BÁ CHÂN (Bác sĩ)

 

8. QUÂN SỐ

·        Tổng quân số theo tài liệu: 2308 người.

·        Tổng quân số ước tính: 2500 người.

·        Bộ Chỉ huy Đoàn 81: 182 người.

·        Các đại đội bộ binh/vận tải: Trung bình từ 70 - 160 người/đơn vị.

 

9. TỔ CHỨC ĐOÀN HẬU CẦN 81 MIỀN

Ø  BỘ CHỈ HUY ĐOÀN

Ø  Khối Cơ quan Tham mưu

·       Ban Quân sự (A1)

·       Ban Chính trị (A2)

·       Ban Sản xuất (A3)

·       Ban Tài chính & Giao thông (A4)

·       Ban Quân y (A5)

·       Ban An ninh (A6)

·       Ban Công binh (A7)

Ø  Khối Vận tải:

·       Tiểu đoàn Vận tải tiếp viện (DX0A): Gồm các Đại đội Vận tải V11, V12, V13.

·       Tiểu đoàn Vận tải (DX0B): Gồm các Đại đội Vận tải V14, V15, V16.

·       Đại đội Vận tải trực thuộc (C15)

Ø  Khối Quân nhu & Sản xuất:

·       Đại đội Thu mua (C11, C12)

·       Đại đội Phân phối (C13, C14)

·       Đại đội Sản xuất (C17)

·       Nhà máy xay xát (BX12)

Ø  Khối Quân y:

·       Hệ thống Bệnh viện (K11, K12, K13A, K13B)

·       Trại an dưỡng dài hạn & ngắn hạn (NL11)

Ø  Khối An ninh & Bảo vệ:

·       Đại đội Căn cứ

·       Đại đội Hành lang (C16)

Ø  Khối Kỹ thuật:

·       Ban Quân khí (BX11)

·       Xưởng sửa chữa xe

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

[2.68] Sơ lược thông tin quân đội Mỹ về Tiểu đoàn 16 Phân khu 2

2026021668104.109

SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ

VỀ TIỂU ĐOÀN 16 PHÂN KHU 2

1. SƠ LƯỢC

Tiểu đoàn D16, trước đây ở miền Bắc Việt Nam mang phiên hiệu Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, được thành lập tại Kim Tân, tỉnh Thanh Hóa với quân số 500 người.

Vào tháng 8 năm 1967, tiểu đoàn chi viện vào miền Nam Việt Nam dưới tên gọi Đơn vị 209/Đoàn 209 [ghi trên Giấy chứng minh] và được đổi tên thành D16 khi đến tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình chi viện, khoảng 100 quân nhân mắc bệnh sốt rét và bị để lại tại các trạm giao liên.

Đầu tháng 11 năm 1967, D16 di chuyển đến huyện Đức Hòa tỉnh Hậu Nghĩa, nghỉ ngơi và huấn luyện cho đến tháng 1 năm 1968.

Vào ngày 31 tháng 1 năm 1968, thực hiện nhiệm vụ trong đợt Tổng tấn công Tết Mậu Thân 68, tiểu đoàn đã tấn công Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất từ phía tây, kết quả có 292 người hy sinh và 2 người bị bắt làm tù binh.

Vào ngày 1 tháng 2 năm 1968, đơn vị bắt đầu một cuộc tấn công trên bộ vào Chi khu Củ Chi, dẫn đến 22 người hy sinh và 2 tù binh.

Tháng 3 năm 1968, D16 nhận được một đơn vị bổ sung cấp đại đội từ Đoàn chi viện 268. Lực lượng bổ sung được tiếp nhận tại khu căn cứ BA THU ở Campuchia.

Trong tháng 4 và tháng 5 năm 1968, tiểu đoàn ở lại khu vực căn cứ ngoại trừ một trận đụng độ lớn vào tháng 5 năm 1968 ở vùng Đức Hòa – Long An. Phối hợp với Tiểu đoàn 2, D16 đã tấn công Doanh trại sở chỉ huy Bảo Trại, Đức Hòa, dẫn đến tổng thiệt hại là 96 người hy sinh và 2 tù binh.

Thông tin về vị trí của tiểu đoàn từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1968 còn thiếu, nhưng đơn vị có thể đã di chuyển đến tỉnh Tây Ninh trong thời gian này.

Tháng 10 năm 1968, tại Hậu Nghĩa, Trung đoàn 49 Sài Gòn đã giao tranh với một lực lượng không xác định quy mô từ D16, khiến 40 người hy sinh.

Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969, D16 hoạt động tại khu vực NHÀ MÁY ĐƯỜNG (SUGAR MILL) và chỉ được xác định qua các cuộc giao chiến nhỏ.

Tháng 6 năm 1969 có thông tin quân số D16 khoảng 150 người.

2. THÀNH PHẦN

Trước tháng 12 năm 1968, D16 có 3 đại đội bộ binh, nhưng vào tháng 1 năm 1969, các đại đội C1 và C2 đã được hợp nhất, chỉ còn lại 2 đại đội là C1 và C3 mới.

3. NHÂN SỰ CHỦ CHỐT

Đại đội C1

Đại đội trưởng: LOI

Đại đội phó: THANG

Chính trị viên: TU

Đại đội C3

Đại đội trưởng: THE

Đại đội phó: HAN

Chính trị viên: HAP

4. VŨ KHÍ

1 súng cối 82mm, 4 súng cối 61mm, 3 súng B40, Súng K-54 (không rõ số lượng), Súng AK-47 (không rõ số lượng)

5. CÁC BÍ DANH

Tiểu đoàn D16: K1; Đoàn QUANG NAM; tiểu đoàn 5; Đoàn 209A, Đoàn 16; B120; tiểu đoàn D16 cơ động.

Đại đội C1: K1; C1; B121.

Đại đội C3: K3; C3; B123. 

[2.67] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về tiểu đoàn 95 đặc công trinh sát Sư đoàn 7

2026021658103.66


SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ VỀ TIỂU ĐOÀN 95 ĐẶC CÔNG TRINH SÁT, SƯ ĐOÀN 7

1. LƯỢC SỬ

Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát được thành lập vào tháng 3 năm 1968 khi các Đại đội Đặc công C.100 và C.95 của Sư đoàn 7 kết hợp lại để hình thành tiểu đoàn. Tiểu đoàn trực thuộc Sư đoàn 7, hoạt động như một thành phần hỗ trợ cho các hoạt động của sư đoàn. 

Thông tin về các hoạt động của tiểu đoàn còn hạn chế do thực tế là đơn vị này không bao giờ tác chiến với tư cách là một đơn vị tập trung.

Đại đội Đặc công C.100 của tiểu đoàn được tổ chức tại tỉnh TÂY NINH vào tháng 5 năm 1967. Đại đội này được hình thành từ một đơn vị súng phun lửa chưa xác định với phiên hiệu là B13. Đơn vị B13 đang trong quá trình tổ chức thì bị giải thể vì một lý do không xác định. Các thành viên của đơn vị này và một số cán bộ từ một đơn vị đặc công cũ đã kết hợp để thành lập Đại đội C.100, trực thuộc Công trường 7/Sư đoàn 7.

Vào tháng 6 năm 1967, do nhiều đợt oanh kích của B-52 gần căn cứ, đơn vị đã di chuyển đến tỉnh BÌNH LONG, nơi mà có thông tin đơn vị sẽ tham gia chiến dịch mùa mưa. Khi đến BÌNH LONG, đơn vị đã tham gia trận tấn công đầu tiên chống lại các thành phần của quân đội Sài Gòn. 

Đại đội hoạt động như một thành phần trinh sát hỗ trợ Sư đoàn 7 cho đến tháng 3 năm 1968 khi kết hợp với Đại đội Đặc công C.95 để hình thành Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát.

Thông tin được biết về nguồn gốc của Đại đội C.95 là rất ít mặc dù đơn vị này dường như đã hoạt động với Sư đoàn 7 từ sớm nhất là tháng 4 năm 1967. Có thể là các thành phần của đơn vị đặc công chưa xác định (đã gửi cán bộ cho Đại đội Đặc công C.100) cung cấp quân số chính cho Đại đội C.95. Thông tin này được xác định chủ yếu từ thực tế là các đại đội này đã giao chiến trong quá trình hình thành tại tỉnh TÂY NINH. 

Đại đội C.95 di chuyển đến tỉnh BÌNH LONG vào khoảng giữa năm 1967, sau khi vùng hoạt động của Sư đoàn 7 chuyển sang tỉnh đó.

Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát hiện tại bao gồm hai đại đội đặc công. Ngay sau khi kết hợp, các đại đội C.95 và C.100 được đổi tên tương ứng thành Đại đội 1 và Đại đội 2. Mặc dù chưa được phát hiện trong vài tháng qua, Tiểu đoàn 95 được tin là đang hoạt động tại vùng lân cận huyện LỘC NINH, với nhiệm vụ trinh sát các căn cứ của đồng minh để hỗ trợ cho các hoạt động của Sư đoàn 7.

Quân số ước tính hiện tại của tiểu đoàn là 200 người.

3. ĐẶC ĐIỂM

Do thực tế là Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát thường tránh các cuộc giao chiến có thể nhận dạng được, phần lớn việc xác định tiểu đoàn 95 là kết quả của các tài liệu thu giữ được.

Tháng 5/1968 đã ghi nhận thông tin đầu tiên về phiên hiệu tiểu đoàn 95 đặc công Sư đoàn 7.

4. CHIẾN THUẬT

Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát được biết đến với việc sử dụng các đội hình tổ và mũi nhọn khi bắt đầu tấn công. Khi phòng thủ, tiểu đoàn thiết lập các trận địa phục kích xung quanh căn cứ của mình để ngăn chặn một cuộc tấn công bất ngờ. Các chiến thuật rút lui như sau:

a. Sau hoặc trong một trận đánh mà đơn vị cấp đại đội được triển khai, bộ phận dẫn đường sẽ đưa các trung đội trưởng đi qua lộ trình rút lui đã hoạch định, trong khi một tiểu đội súng máy hạng nhẹ được để lại phía sau để bảo vệ quân đang rút lui.

b. Nếu giao liên không được sử dụng, một trung đội sẽ rút lui và sau đó yểm trợ cho cuộc rút lui của hai trung đội tiếp theo, những đơn vị này sẽ tạo khoảng cách từ 200 đến 300 mét.

Trước khi tiến hành một cuộc tấn công, tiểu đoàn tiến hành trinh sát mục tiêu một cách kỹ lưỡng.

5. HUẤN LUYỆN

Các dấu hiệu cho thấy nhân sự của Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát được huấn luyện tốt về cách sử dụng vũ khí cá nhân và chiến thuật đặc công. Các thành phần của tiểu đoàn được biết là đã nhận được huấn luyện về cách sử dụng súng phun lửa, sau đó là 5 tháng huấn luyện vũ khí và chiến thuật khi ở tỉnh TÂY NINH.

6. NHIỆM VỤ

Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát là cung cấp sự hỗ trợ cho các bộ phận của Sư đoàn 7 thông qua các nhiệm vụ trinh sát, phá hoại và chiến đấu trực tiếp với các đơn vị đồng minh. Tiểu đoàn thường hoạt động cùng với các đơn vị cấp trung đoàn. Vùng hoạt động của tiểu đoàn tương đồng với vùng hoạt động của Sư đoàn 7.

7. NHÂN SỰ CHÍNH

 

Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát

Đại đội C.95

Đại đội C.100

Tiểu đoàn trưởng - ĐẠI ÚY THUC

Chưa rõ

ĐẠI ÚY THANH

Tiểu đoàn phó – AN

Chưa rõ

HÙNG

Chính trị viên - DUNG

Chưa rõ

Chưa rõ

8. VŨ KHÍ

a. Đại đội C.100 trang bị: 3 súng máy hạng nhẹ, 22 khẩu AK-47, 4 khẩu B-40, 2 khẩu B-41, 2 súng cối 60mm, lựu đạn, thuốc nổ lõm.

b. Đại đội C.95 trang bị: 6 khẩu B-40, 6 khẩu M-79, lựu đạn, bộc phá ống, 4 khẩu súng trường tự động BAR, AK-47.