Thứ Ba, 17 tháng 2, 2026

[2.69] Đoàn 81 hậu cần - Cục Hậu cần Miền: Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ

2026021769105.16 


SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ VỀ ĐOÀN 81 HẬU CẦN (CỤC HẬU CẦN MIỀN)


1. SƠ LƯỢC

a. Đoàn Hậu cần 81 được cho là đã được thành lập vào giữa năm 1964 (tháng 6) với tên gọi Đoàn U-50. Đoàn được giao nhiệm vụ hỗ trợ hoạt động của tất cả các đơn vị và cơ quan hoạt động trong và xung quanh Chiến khu D.

b. Một báo cáo năm 1967 cho biết phiên hiệu đơn vị đã thay đổi thành Đoàn 30 vào cuối năm 1965 hoặc đầu năm 1966, và đến giữa năm 1966 lại đổi thành Đoàn Hậu cần 81.

c. Đoàn 81 đã hoạt động liên tục từ các căn cứ ở Chiến khu D và tại nhiều thời điểm khác nhau đã hỗ trợ cho các Sư đoàn 5, 7 và 9 cũng như Trung đoàn Đồng Nai. Hiện tại, đơn vị này đang hỗ trợ Sư đoàn 5 và Trung đoàn Đồng Nai.

d. Thông tin năm 1968 cho thấy Bộ Chỉ huy Đoàn có khả năng đã di chuyển cùng với việc di chuyển đồng thời các kho bãi chính và bãi đậu xe.

e. Có thông tin đầu năm đầu năm 1969 cho biết Bộ Chỉ huy Đoàn đã di chuyển về phía Tây, rời xa các khu vực đông dân cư để hướng về phía Đông Nam tỉnh Bình Long.

2. KHẢ NĂNG CHIẾN ĐẤU

Đoàn 81 không phải là một đơn vị chiến đấu chủ lực. Một trong những chiến thuật phổ biến của đơn vị là sử dụng mạng lưới bẫy chông và mìn dày đặc. Chiến thuật này mang tính chất phòng thủ nhằm ngăn cản các cuộc càn quét của quân đồng minh tìm kiếm căn cứ và kho tàng.

Đoàn 81 cũng có các lực lượng an ninh bảo vệ nội bộ trong khi các bộ phận khác thực hiện nhiệm vụ hậu cần.

3. HẬU CẦN

a. Việc thu mua lương thực liên quan trực tiếp đến người dân địa phương. Đoàn 81 không gặp khó khăn trong việc thu mua. Việc thanh toán được thực hiện từ nguồn kinh phí do cấp trên cấp.

b. Đoàn 81 duy trì liên lạc chặt chẽ với Đoàn 84, Đoàn 86 và Đoàn 70. Các đơn vị này cung cấp phần lớn vũ khí và đạn dược cho Đoàn 81. Ngược lại, Đoàn 81 cung cấp gạo cho các đơn vị đó.

c. Đoàn 81 tận dụng tốt các đường thủy để tạo chướng ngại vật chống thiết giáp quân đồng minh. Họ thường cất giấu quân nhu trong các hầm cách mép nước khoảng 700 đến 800 mét. Đoàn cũng sử dụng xe bò, xe đạp thồ, xe tải và dân công.

d. Một số đơn vị trực thuộc đã được khen ngợi vì thành tích sản xuất quân phục, bao đựng vũ khí, giày dép, đạn dược và lựu đạn. Đoàn cũng tự trồng được một phần lúa gạo.

e. Giai đoạn tháng 2 - tháng 3 năm 1968, đơn vị đã huy động 1.300 dân công từ các huyện Thủ Đức, Dĩ An, Lái Thiêu và Tân Uyên để vận chuyển vũ khí từ Chiến khu D về vùng ven Sài Gòn.

4. Ghi nhận: Đoàn có một Trường Quân y huấn luyện về điều trị nội thương, ngoại khoa, giải phẫu, sinh lý học và hệ thần kinh.

5. NHIỆM VỤ

a. Tổng quát

Cung cấp hậu cần và y tế cho các Sư đoàn 5, 7, 9 và Trung đoàn Đồng Nai tại Chiến khu D. Phối hợp hỗ trợ với các Đoàn Hậu cần 83, 84, 86 và 70.

b. Cụ thể

  • Giữ thông suốt tuyến đường tiếp tế cho Đoàn 86.
  • Thu mua và phân phối quân nhu tại Bình Dương, Phước Long và Chiến khu D.
  • Hỗ trợ Trung đoàn Đồng Nai và Sư đoàn 5.
  • Vận chuyển quân nhu nội bộ Đoàn.
  • Giữ thông suốt các tuyến giao liên nội bộ.
  • Bảo dưỡng phương tiện và thiết bị.
  • Quản lý 3 bệnh viện thuộc biên chế.

6. ĐỊA BÀN HOẠT ĐỘNG

Chiến khu D, Nam tỉnh Phước Long, Phân khu 5 và Nam tỉnh Bình Long.

 

7. NHÂN SỰ CHÍNH

Chỉ huy trưởng Đoàn 81

LÊ MINH THỊNH

Chỉ huy phó Đoàn 81

NGUYỄN MỸ

Chính ủy Đoàn 81

NGUYỄN HỮU HỒ

Trợ lý Chính ủy Đoàn 81

HỒ THẮNG

Trưởng ban Quân lực

TRẦN QUANG VINH

Trưởng ban Quân y

NGUYỄN VĂN LÃNH (NGUYỄN VĂN HÓA)

Chỉ huy trưởng C11

NGUYỄN VĂN DỤC

Chỉ huy trưởng C2

MƯỜI NHƠN

Chỉ huy trưởng C12

NGUYỄN BÀNG

Chỉ huy trưởng C16

THÀNH THÂN GIANG

Chỉ huy trưởng V11

NGUYỄN VĂN DỤC

Chỉ huy trưởng K11

BÁ CHÂN (Bác sĩ)

 

8. QUÂN SỐ

·        Tổng quân số theo tài liệu: 2308 người.

·        Tổng quân số ước tính: 2500 người.

·        Bộ Chỉ huy Đoàn 81: 182 người.

·        Các đại đội bộ binh/vận tải: Trung bình từ 70 - 160 người/đơn vị.

 

9. TỔ CHỨC ĐOÀN HẬU CẦN 81 MIỀN

Ø  BỘ CHỈ HUY ĐOÀN

Ø  Khối Cơ quan Tham mưu

·       Ban Quân sự (A1)

·       Ban Chính trị (A2)

·       Ban Sản xuất (A3)

·       Ban Tài chính & Giao thông (A4)

·       Ban Quân y (A5)

·       Ban An ninh (A6)

·       Ban Công binh (A7)

Ø  Khối Vận tải:

·       Tiểu đoàn Vận tải tiếp viện (DX0A): Gồm các Đại đội Vận tải V11, V12, V13.

·       Tiểu đoàn Vận tải (DX0B): Gồm các Đại đội Vận tải V14, V15, V16.

·       Đại đội Vận tải trực thuộc (C15)

Ø  Khối Quân nhu & Sản xuất:

·       Đại đội Thu mua (C11, C12)

·       Đại đội Phân phối (C13, C14)

·       Đại đội Sản xuất (C17)

·       Nhà máy xay xát (BX12)

Ø  Khối Quân y:

·       Hệ thống Bệnh viện (K11, K12, K13A, K13B)

·       Trại an dưỡng dài hạn & ngắn hạn (NL11)

Ø  Khối An ninh & Bảo vệ:

·       Đại đội Căn cứ

·       Đại đội Hành lang (C16)

Ø  Khối Kỹ thuật:

·       Ban Quân khí (BX11)

·       Xưởng sửa chữa xe

Thứ Hai, 16 tháng 2, 2026

[2.68] Sơ lược thông tin quân đội Mỹ về Tiểu đoàn 16 Phân khu 2

2026021668104.109

SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ

VỀ TIỂU ĐOÀN 16 PHÂN KHU 2

1. SƠ LƯỢC

Tiểu đoàn D16, trước đây ở miền Bắc Việt Nam mang phiên hiệu Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304, được thành lập tại Kim Tân, tỉnh Thanh Hóa với quân số 500 người.

Vào tháng 8 năm 1967, tiểu đoàn chi viện vào miền Nam Việt Nam dưới tên gọi Đơn vị 209/Đoàn 209 [ghi trên Giấy chứng minh] và được đổi tên thành D16 khi đến tỉnh Tây Ninh. Trong quá trình chi viện, khoảng 100 quân nhân mắc bệnh sốt rét và bị để lại tại các trạm giao liên.

Đầu tháng 11 năm 1967, D16 di chuyển đến huyện Đức Hòa tỉnh Hậu Nghĩa, nghỉ ngơi và huấn luyện cho đến tháng 1 năm 1968.

Vào ngày 31 tháng 1 năm 1968, thực hiện nhiệm vụ trong đợt Tổng tấn công Tết Mậu Thân 68, tiểu đoàn đã tấn công Căn cứ Không quân Tân Sơn Nhất từ phía tây, kết quả có 292 người hy sinh và 2 người bị bắt làm tù binh.

Vào ngày 1 tháng 2 năm 1968, đơn vị bắt đầu một cuộc tấn công trên bộ vào Chi khu Củ Chi, dẫn đến 22 người hy sinh và 2 tù binh.

Tháng 3 năm 1968, D16 nhận được một đơn vị bổ sung cấp đại đội từ Đoàn chi viện 268. Lực lượng bổ sung được tiếp nhận tại khu căn cứ BA THU ở Campuchia.

Trong tháng 4 và tháng 5 năm 1968, tiểu đoàn ở lại khu vực căn cứ ngoại trừ một trận đụng độ lớn vào tháng 5 năm 1968 ở vùng Đức Hòa – Long An. Phối hợp với Tiểu đoàn 2, D16 đã tấn công Doanh trại sở chỉ huy Bảo Trại, Đức Hòa, dẫn đến tổng thiệt hại là 96 người hy sinh và 2 tù binh.

Thông tin về vị trí của tiểu đoàn từ tháng 6 đến tháng 10 năm 1968 còn thiếu, nhưng đơn vị có thể đã di chuyển đến tỉnh Tây Ninh trong thời gian này.

Tháng 10 năm 1968, tại Hậu Nghĩa, Trung đoàn 49 Sài Gòn đã giao tranh với một lực lượng không xác định quy mô từ D16, khiến 40 người hy sinh.

Từ tháng 10 năm 1968 đến tháng 6 năm 1969, D16 hoạt động tại khu vực NHÀ MÁY ĐƯỜNG (SUGAR MILL) và chỉ được xác định qua các cuộc giao chiến nhỏ.

Tháng 6 năm 1969 có thông tin quân số D16 khoảng 150 người.

2. THÀNH PHẦN

Trước tháng 12 năm 1968, D16 có 3 đại đội bộ binh, nhưng vào tháng 1 năm 1969, các đại đội C1 và C2 đã được hợp nhất, chỉ còn lại 2 đại đội là C1 và C3 mới.

3. NHÂN SỰ CHỦ CHỐT

Đại đội C1

Đại đội trưởng: LOI

Đại đội phó: THANG

Chính trị viên: TU

Đại đội C3

Đại đội trưởng: THE

Đại đội phó: HAN

Chính trị viên: HAP

4. VŨ KHÍ

1 súng cối 82mm, 4 súng cối 61mm, 3 súng B40, Súng K-54 (không rõ số lượng), Súng AK-47 (không rõ số lượng)

5. CÁC BÍ DANH

Tiểu đoàn D16: K1; Đoàn QUANG NAM; tiểu đoàn 5; Đoàn 209A, Đoàn 16; B120; tiểu đoàn D16 cơ động.

Đại đội C1: K1; C1; B121.

Đại đội C3: K3; C3; B123. 

[2.67] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về tiểu đoàn 95 đặc công trinh sát Sư đoàn 7

2026021658103.66


SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ VỀ TIỂU ĐOÀN 95 ĐẶC CÔNG TRINH SÁT, SƯ ĐOÀN 7

1. LƯỢC SỬ

Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát được thành lập vào tháng 3 năm 1968 khi các Đại đội Đặc công C.100 và C.95 của Sư đoàn 7 kết hợp lại để hình thành tiểu đoàn. Tiểu đoàn trực thuộc Sư đoàn 7, hoạt động như một thành phần hỗ trợ cho các hoạt động của sư đoàn. 

Thông tin về các hoạt động của tiểu đoàn còn hạn chế do thực tế là đơn vị này không bao giờ tác chiến với tư cách là một đơn vị tập trung.

Đại đội Đặc công C.100 của tiểu đoàn được tổ chức tại tỉnh TÂY NINH vào tháng 5 năm 1967. Đại đội này được hình thành từ một đơn vị súng phun lửa chưa xác định với phiên hiệu là B13. Đơn vị B13 đang trong quá trình tổ chức thì bị giải thể vì một lý do không xác định. Các thành viên của đơn vị này và một số cán bộ từ một đơn vị đặc công cũ đã kết hợp để thành lập Đại đội C.100, trực thuộc Công trường 7/Sư đoàn 7.

Vào tháng 6 năm 1967, do nhiều đợt oanh kích của B-52 gần căn cứ, đơn vị đã di chuyển đến tỉnh BÌNH LONG, nơi mà có thông tin đơn vị sẽ tham gia chiến dịch mùa mưa. Khi đến BÌNH LONG, đơn vị đã tham gia trận tấn công đầu tiên chống lại các thành phần của quân đội Sài Gòn. 

Đại đội hoạt động như một thành phần trinh sát hỗ trợ Sư đoàn 7 cho đến tháng 3 năm 1968 khi kết hợp với Đại đội Đặc công C.95 để hình thành Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát.

Thông tin được biết về nguồn gốc của Đại đội C.95 là rất ít mặc dù đơn vị này dường như đã hoạt động với Sư đoàn 7 từ sớm nhất là tháng 4 năm 1967. Có thể là các thành phần của đơn vị đặc công chưa xác định (đã gửi cán bộ cho Đại đội Đặc công C.100) cung cấp quân số chính cho Đại đội C.95. Thông tin này được xác định chủ yếu từ thực tế là các đại đội này đã giao chiến trong quá trình hình thành tại tỉnh TÂY NINH. 

Đại đội C.95 di chuyển đến tỉnh BÌNH LONG vào khoảng giữa năm 1967, sau khi vùng hoạt động của Sư đoàn 7 chuyển sang tỉnh đó.

Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát hiện tại bao gồm hai đại đội đặc công. Ngay sau khi kết hợp, các đại đội C.95 và C.100 được đổi tên tương ứng thành Đại đội 1 và Đại đội 2. Mặc dù chưa được phát hiện trong vài tháng qua, Tiểu đoàn 95 được tin là đang hoạt động tại vùng lân cận huyện LỘC NINH, với nhiệm vụ trinh sát các căn cứ của đồng minh để hỗ trợ cho các hoạt động của Sư đoàn 7.

Quân số ước tính hiện tại của tiểu đoàn là 200 người.

3. ĐẶC ĐIỂM

Do thực tế là Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát thường tránh các cuộc giao chiến có thể nhận dạng được, phần lớn việc xác định tiểu đoàn 95 là kết quả của các tài liệu thu giữ được.

Tháng 5/1968 đã ghi nhận thông tin đầu tiên về phiên hiệu tiểu đoàn 95 đặc công Sư đoàn 7.

4. CHIẾN THUẬT

Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát được biết đến với việc sử dụng các đội hình tổ và mũi nhọn khi bắt đầu tấn công. Khi phòng thủ, tiểu đoàn thiết lập các trận địa phục kích xung quanh căn cứ của mình để ngăn chặn một cuộc tấn công bất ngờ. Các chiến thuật rút lui như sau:

a. Sau hoặc trong một trận đánh mà đơn vị cấp đại đội được triển khai, bộ phận dẫn đường sẽ đưa các trung đội trưởng đi qua lộ trình rút lui đã hoạch định, trong khi một tiểu đội súng máy hạng nhẹ được để lại phía sau để bảo vệ quân đang rút lui.

b. Nếu giao liên không được sử dụng, một trung đội sẽ rút lui và sau đó yểm trợ cho cuộc rút lui của hai trung đội tiếp theo, những đơn vị này sẽ tạo khoảng cách từ 200 đến 300 mét.

Trước khi tiến hành một cuộc tấn công, tiểu đoàn tiến hành trinh sát mục tiêu một cách kỹ lưỡng.

5. HUẤN LUYỆN

Các dấu hiệu cho thấy nhân sự của Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát được huấn luyện tốt về cách sử dụng vũ khí cá nhân và chiến thuật đặc công. Các thành phần của tiểu đoàn được biết là đã nhận được huấn luyện về cách sử dụng súng phun lửa, sau đó là 5 tháng huấn luyện vũ khí và chiến thuật khi ở tỉnh TÂY NINH.

6. NHIỆM VỤ

Nhiệm vụ của Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát là cung cấp sự hỗ trợ cho các bộ phận của Sư đoàn 7 thông qua các nhiệm vụ trinh sát, phá hoại và chiến đấu trực tiếp với các đơn vị đồng minh. Tiểu đoàn thường hoạt động cùng với các đơn vị cấp trung đoàn. Vùng hoạt động của tiểu đoàn tương đồng với vùng hoạt động của Sư đoàn 7.

7. NHÂN SỰ CHÍNH

 

Tiểu đoàn 95 Đặc công Trinh sát

Đại đội C.95

Đại đội C.100

Tiểu đoàn trưởng - ĐẠI ÚY THUC

Chưa rõ

ĐẠI ÚY THANH

Tiểu đoàn phó – AN

Chưa rõ

HÙNG

Chính trị viên - DUNG

Chưa rõ

Chưa rõ

8. VŨ KHÍ

a. Đại đội C.100 trang bị: 3 súng máy hạng nhẹ, 22 khẩu AK-47, 4 khẩu B-40, 2 khẩu B-41, 2 súng cối 60mm, lựu đạn, thuốc nổ lõm.

b. Đại đội C.95 trang bị: 6 khẩu B-40, 6 khẩu M-79, lựu đạn, bộc phá ống, 4 khẩu súng trường tự động BAR, AK-47.


Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

[2.66] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về Trung đoàn 96 pháo binh Miền

2026021131097.60

SƠ LƯỢC THÔNG TIN QUÂN ĐỘI MỸ VỀ TRUNG ĐOÀN 96 PHÁO BINH MIỀN

1.     Sơ lược

Quân Mỹ đã phát hiện và xác định được các thành phần khác nhau của trung đoàn 96 pháo binh tại quân khu 3, gồm: tiểu đoàn 3, đại đội 9 tiểu đoàn 5, đại đội 5 tiểu đoàn 4, đại đội 6 tiểu đoàn 4…

2.     Tổ chức

·       Trung đoàn 96 pháo binh trực thuộc Bộ chỉ huy pháo binh 69. Trung đoàn có 3 cơ quan tham mưu là quân sự, chính trị và hậu cần. Có 3 tiểu đoàn trực thuộc trung đoàn, ký hiệu là tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 5.

·       Các tiểu đoàn này trước đây có ký hiệu là tiểu đoàn 33, tiểu đoàn 34 và tiểu đoàn 35. Ba tiểu đoàn có tổ chức và trang bị tương tự nhau.

·       Mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội, và được trang bị rocket 107mm, súng cối 82mm và 120mm. Ngoài ra, tiểu đoàn 4 có rocket  122mm, được dự định dùng cho các cuộc tấn công vào Sài Gòn.

·       Trung đoàn có một đại đội thông tin (đại đội 15), một đại đội trinh sát (đại đội 16) và một đại đội vận tải được biên chế, và mỗi tiểu đoàn có một trung đội thông tin và một trung đội trinh sát.

3.     Lịch sử

·       Vào tháng 11 năm 1967, các tiểu đoàn 33 và 34 pháo binh thuộc trung đoàn 40 pháo binh, mặt trận B3 Tây Nguyên được lệnh di chuyển từ khu vực Kon Tum thuộc quân khu 2 đến Hải Yến, nhằm mục đích thành lập một trung đoàn mới (Ghi chú: Hải Yến được cho là nằm ở khu vực phía đông Đồng Xoài).

·       Tại thời điểm này, trung đoàn 96 pháo binh được thành lập. Các tiểu đoàn 33 và 34 được đổi tên thành tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 4, và tiểu đoàn 52 pháo binh, trước đây trực thuộc trực tiếp Bộ chỉ huy pháo binh 69, đã được đưa vào biên chế trung đoàn 96. Quân số bổ sung được tiếp nhận từ các đoàn chi viện 21 và 138.

·       Thông tin liên quan đến các hoạt động của trung đoàn trong năm 1968 còn sơ sài, nhưng người ta cho rằng tiểu đoàn 3 đã hoạt động tại khu vực Lai Khê cho đến tháng 4, khi nó di chuyển về phía tây bắc đến khu vực Suối Ba Chiêm, nơi nó ở lại cho đến tháng 10.

·       Tiểu đoàn 4 có khả năng đã hoạt động tại khu vực Củ Chi trong tháng 2 và tháng 3, và có thể đã chuyển đến Phân khu 4 cho các hoạt động tấn công Sài Gòn trong đợt Tổng tấn công. Sau đó, nó có thể đã di chuyển về phía bắc đến vùng chiến khu C, nơi tiểu đoàn ở lại trong thời gian còn lại của năm.

·       Tiểu đoàn 52 pháo binh có thể đã hoạt động tại khu vực Củ Chi cho đến tháng 5, sau đó di chuyển đến vùng chiến khu C. Trong thời gian này, tiểu đoàn có khả năng đã được đổi tên thành tiểu đoàn 5. Bằng chứng về việc đổi tên đã được tìm thấy trong các giấy tờ cá nhân của chiến sỹ thuộc tiểu đoàn.

·       Trung đoàn có khả năng đã ở lại chiến khu C trong phần lớn thời gian của năm. Quân số thay thế cho trung đoàn 96 pháo binh đã được tiếp nhận từ các đoàn chi viện 267 và 69 lần lượt vào tháng 4 năm 1968 và tháng 9 năm 1968.

·       Có lẽ vào cuối năm 1968, toàn bộ trung đoàn 96 pháo binh đã di chuyển đến khu vực biên giới Campuchia phía bắc Katum. Tại đây trung đoàn đã nghỉ ngơi và tái cung cấp để chuẩn bị cho cuộc Tấn công Đông - Xuân.

·       Khoảng đầu năm 1969, tiểu đoàn 3 di chuyển đến vùng chiến khu D và thiết lập một căn cứ tại khu vực phía đông Phước Vĩnh. Từ đây tiểu đoàn dự định thực hiện các cuộc tấn công bằng hỏa lực vào khu vực Phước Vĩnh.

·       Ngay sau đó, tiểu đoàn 4 di chuyển đến khu vực tây bắc Lai Khê, để thực hiện các cuộc tấn công bằng hỏa lực tại khu vực đó, và tiểu đoàn 5 có khả năng đã di chuyển đến khu vực phía bắc Michelin.

4.     Chiến thuật

·       Tiểu đoàn 3 thường di chuyển theo hàng một với bộ phận chỉ huy tiểu đoàn ở giữa, 1 trung đội bảo vệ phía trước và 1 trung đội bảo vệ phía sau. Di chuyển cả ban ngày và ban đêm đều di chuyển trong rừng; băng qua các khu vực trống trải dưới sự che chở của bóng đêm.

·       Tiểu đoàn thường đóng quân tại các căn cứ đã được thiết lập sẵn. Trại được thiết lập theo hình tam giác, với các trạm gác 2 người cách mỗi 60 mét. Khi gặp pháo kích hoặc không kích trong lúc hành quân, tất cả các thành viên của đơn vị sẽ nằm xuống và chờ quyết định từ cán bộ về thời điểm tiếp tục di chuyển. Việc bắn trả bị hạn chế, cả khi đang di chuyển và khi ở trong trại.

·       Khi tiểu đoàn gặp quân đội đồng minh trong lúc hành quân, họ sẽ bắn trả và tản ra. Nếu quân đội đồng minh đang càn quét căn cứ, họ sẽ di chuyển ra khỏi trại. Trong cả hai trường hợp, họ sẽ di chuyển về phía bắc và tập hợp lại cách chiến trường từ 500 đến 1000 mét. Chiến thuật của tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 5 chưa được biết rõ.

5.     Quân số

Ba tiểu đoàn của trung đoàn 96 có khả năng có quân số tương đương nhau, với mỗi tiểu đoàn có khoảng 250 người. Giả định này dựa trên thực tế là vì đây là các đơn vị chuyên môn, có xu hướng tránh giao chiến, nên ít thương vong hoặc ít cần quân số thay thế. Trung đoàn 96 có khả năng gồm 95-100% người miền Bắc.

6.     Nhân sự, bí danh và số hòm thư

a.     Trung đoàn 96 pháo binh

  • Trung đoàn trưởng: LAI, Trung tá
  • Tham mưu phó: LIÊN, Thiếu tá; MEO, Thiếu tá
  • Chính ủy: HẢI, Trung tá

b.     Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 96

  • Tiểu đoàn trưởng: THÀNH, Đại úy
  • Tham mưu phó: CHÂU, Đại úy; CHIÊU, Thượng úy; MINH, Đại úy
  • Chính ủy: LƯƠNG, Đại úy; KHẢI

Đại đội 1 / Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 96

o   Đại đội trưởng: CHUYÊN, Trung úy

o   Đại đội phó: ĐOÀN, Chuẩn úy; THOÁT, Chuẩn úy

o   Chính trị viên: SƠN, Thượng úy; ĐỆ

Đại đội 2 / Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 96

o   Đại đội trưởng: NHUẬN, Trung úy

o   Đại đội phó: ĐƯƠNG, Chuẩn úy; DIỆM, Chuẩn úy; THUỘC

o   Chính trị viên: MẬU, Trung úy

Đại đội 3 / Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 96

o   Đại đội trưởng: TƯỚC, Trung úy (Hy sinh)

o   Đại đội phó: KHÁNH, Trung úy; THỊNH, Trung úy; HUYNH, Chuẩn úy; CHÁNH, Trung úy

o   Chính trị viên: LONG, Trung úy (Hy sinh)

c.      Tiểu đoàn 4 – Trung đoàn 96

  • Tiểu đoàn trưởng: LÂN, Đại úy
  • Tham mưu phó: NHO, Thượng úy

Đại đội 15 (Thông tin) – Trung đoàn 96

  • Đại đội trưởng: QUÁT, Thượng úy

d.     Bí danh và số hòm thư

 

Đơn vị

Bí danh

Số hòm thư

Trung đoàn 96

Làng 2 (Ấp 2); Trung đoàn 5 pháo binh; Trung đoàn 40 pháo binh; Đoàn 96 (Nhóm 96); D96

Tiểu đoàn 3

K33; tiểu đoàn 1

86.550YK LZC

Tiểu đoàn 4

K34; tiểu đoàn 2

Tiểu đoàn 5

Tiểu đoàn 52 pháo binh; K35; C52; Z35; Z32; Z32; C.2; C32; Đoàn 52; C135; D1; B52; 725; 820; C112; C35; 232; Tiểu đoàn 1.

86.550YKC2; 9493

7.     Sơ đồ tổ chức Trung đoàn 96 Pháo binh (Bí danh: Làng 2/ Ấp 2)

 

Cơ quan / Đơn vị trực thuộc

Thành phần chi tiết

Trung đoàn bộ

Cơ quan Tham mưu

Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Hậu cần

Các đơn vị chuyên môn

Đại đội 15 Thông tin, Đại đội 16 Trinh sát, Trung đội Vận tải

Tiểu đoàn 3 (K33)

Ban chỉ huy tiểu đoàn

Tiểu ban Quân sự, Tiểu ban Chính trị, Tiểu ban Hậu cần

Các đơn vị trực thuộc

Đại đội 1, Đại đội 2, Đại đội 3, Trung đội Thông tin, Trung đội Trinh sát

Tiểu đoàn 4 (K34)

Ban chỉ huy tiểu đoàn

Tiểu ban Quân sự, Tiểu ban Chính trị, Tiểu ban Hậu cần

Các đơn vị trực thuộc

Đại đội 4, Đại đội 5, Đại đội 6, Trung đội Thông tin, Trung đội Trinh sát

Tiểu đoàn 5 (K35)

Ban chỉ huy tiểu đoàn

Tiểu ban Quân sự, Tiểu ban Chính trị, Tiểu ban Hậu cần

Các đơn vị trực thuộc

Đại đội 7, Đại đội 8, Đại đội 9, Trung đội Thông tin, Trung đội Trinh sát