Thứ Tư, 11 tháng 2, 2026

[2.66] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về Trung đoàn 96 pháo binh Miền

2026021131097.60

SƠ LƯỢC THÔNG TIN QUÂN ĐỘI MỸ VỀ TRUNG ĐOÀN 96 PHÁO BINH MIỀN

1.     Sơ lược

Quân Mỹ đã phát hiện và xác định được các thành phần khác nhau của trung đoàn 96 pháo binh tại quân khu 3, gồm: tiểu đoàn 3, đại đội 9 tiểu đoàn 5, đại đội 5 tiểu đoàn 4, đại đội 6 tiểu đoàn 4…

2.     Tổ chức

·       Trung đoàn 96 pháo binh trực thuộc Bộ chỉ huy pháo binh 69. Trung đoàn có 3 cơ quan tham mưu là quân sự, chính trị và hậu cần. Có 3 tiểu đoàn trực thuộc trung đoàn, ký hiệu là tiểu đoàn 3, tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 5.

·       Các tiểu đoàn này trước đây có ký hiệu là tiểu đoàn 33, tiểu đoàn 34 và tiểu đoàn 35. Ba tiểu đoàn có tổ chức và trang bị tương tự nhau.

·       Mỗi tiểu đoàn có 3 đại đội, và được trang bị rocket 107mm, súng cối 82mm và 120mm. Ngoài ra, tiểu đoàn 4 có rocket  122mm, được dự định dùng cho các cuộc tấn công vào Sài Gòn.

·       Trung đoàn có một đại đội thông tin (đại đội 15), một đại đội trinh sát (đại đội 16) và một đại đội vận tải được biên chế, và mỗi tiểu đoàn có một trung đội thông tin và một trung đội trinh sát.

3.     Lịch sử

·       Vào tháng 11 năm 1967, các tiểu đoàn 33 và 34 pháo binh thuộc trung đoàn 40 pháo binh, mặt trận B3 Tây Nguyên được lệnh di chuyển từ khu vực Kon Tum thuộc quân khu 2 đến Hải Yến, nhằm mục đích thành lập một trung đoàn mới (Ghi chú: Hải Yến được cho là nằm ở khu vực phía đông Đồng Xoài).

·       Tại thời điểm này, trung đoàn 96 pháo binh được thành lập. Các tiểu đoàn 33 và 34 được đổi tên thành tiểu đoàn 3 và tiểu đoàn 4, và tiểu đoàn 52 pháo binh, trước đây trực thuộc trực tiếp Bộ chỉ huy pháo binh 69, đã được đưa vào biên chế trung đoàn 96. Quân số bổ sung được tiếp nhận từ các đoàn chi viện 21 và 138.

·       Thông tin liên quan đến các hoạt động của trung đoàn trong năm 1968 còn sơ sài, nhưng người ta cho rằng tiểu đoàn 3 đã hoạt động tại khu vực Lai Khê cho đến tháng 4, khi nó di chuyển về phía tây bắc đến khu vực Suối Ba Chiêm, nơi nó ở lại cho đến tháng 10.

·       Tiểu đoàn 4 có khả năng đã hoạt động tại khu vực Củ Chi trong tháng 2 và tháng 3, và có thể đã chuyển đến Phân khu 4 cho các hoạt động tấn công Sài Gòn trong đợt Tổng tấn công. Sau đó, nó có thể đã di chuyển về phía bắc đến vùng chiến khu C, nơi tiểu đoàn ở lại trong thời gian còn lại của năm.

·       Tiểu đoàn 52 pháo binh có thể đã hoạt động tại khu vực Củ Chi cho đến tháng 5, sau đó di chuyển đến vùng chiến khu C. Trong thời gian này, tiểu đoàn có khả năng đã được đổi tên thành tiểu đoàn 5. Bằng chứng về việc đổi tên đã được tìm thấy trong các giấy tờ cá nhân của chiến sỹ thuộc tiểu đoàn.

·       Trung đoàn có khả năng đã ở lại chiến khu C trong phần lớn thời gian của năm. Quân số thay thế cho trung đoàn 96 pháo binh đã được tiếp nhận từ các đoàn chi viện 267 và 69 lần lượt vào tháng 4 năm 1968 và tháng 9 năm 1968.

·       Có lẽ vào cuối năm 1968, toàn bộ trung đoàn 96 pháo binh đã di chuyển đến khu vực biên giới Campuchia phía bắc Katum. Tại đây trung đoàn đã nghỉ ngơi và tái cung cấp để chuẩn bị cho cuộc Tấn công Đông - Xuân.

·       Khoảng đầu năm 1969, tiểu đoàn 3 di chuyển đến vùng chiến khu D và thiết lập một căn cứ tại khu vực phía đông Phước Vĩnh. Từ đây tiểu đoàn dự định thực hiện các cuộc tấn công bằng hỏa lực vào khu vực Phước Vĩnh.

·       Ngay sau đó, tiểu đoàn 4 di chuyển đến khu vực tây bắc Lai Khê, để thực hiện các cuộc tấn công bằng hỏa lực tại khu vực đó, và tiểu đoàn 5 có khả năng đã di chuyển đến khu vực phía bắc Michelin.

4.     Chiến thuật

·       Tiểu đoàn 3 thường di chuyển theo hàng một với bộ phận chỉ huy tiểu đoàn ở giữa, 1 trung đội bảo vệ phía trước và 1 trung đội bảo vệ phía sau. Di chuyển cả ban ngày và ban đêm đều di chuyển trong rừng; băng qua các khu vực trống trải dưới sự che chở của bóng đêm.

·       Tiểu đoàn thường đóng quân tại các căn cứ đã được thiết lập sẵn. Trại được thiết lập theo hình tam giác, với các trạm gác 2 người cách mỗi 60 mét. Khi gặp pháo kích hoặc không kích trong lúc hành quân, tất cả các thành viên của đơn vị sẽ nằm xuống và chờ quyết định từ cán bộ về thời điểm tiếp tục di chuyển. Việc bắn trả bị hạn chế, cả khi đang di chuyển và khi ở trong trại.

·       Khi tiểu đoàn gặp quân đội đồng minh trong lúc hành quân, họ sẽ bắn trả và tản ra. Nếu quân đội đồng minh đang càn quét căn cứ, họ sẽ di chuyển ra khỏi trại. Trong cả hai trường hợp, họ sẽ di chuyển về phía bắc và tập hợp lại cách chiến trường từ 500 đến 1000 mét. Chiến thuật của tiểu đoàn 4 và tiểu đoàn 5 chưa được biết rõ.

5.     Quân số

Ba tiểu đoàn của trung đoàn 96 có khả năng có quân số tương đương nhau, với mỗi tiểu đoàn có khoảng 250 người. Giả định này dựa trên thực tế là vì đây là các đơn vị chuyên môn, có xu hướng tránh giao chiến, nên ít thương vong hoặc ít cần quân số thay thế. Trung đoàn 96 có khả năng gồm 95-100% người miền Bắc.

6.     Nhân sự, bí danh và số hòm thư

a.     Trung đoàn 96 pháo binh

  • Trung đoàn trưởng: LAI, Trung tá
  • Tham mưu phó: LIÊN, Thiếu tá; MEO, Thiếu tá
  • Chính ủy: HẢI, Trung tá

b.     Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 96

  • Tiểu đoàn trưởng: THÀNH, Đại úy
  • Tham mưu phó: CHÂU, Đại úy; CHIÊU, Thượng úy; MINH, Đại úy
  • Chính ủy: LƯƠNG, Đại úy; KHẢI

Đại đội 1 / Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 96

o   Đại đội trưởng: CHUYÊN, Trung úy

o   Đại đội phó: ĐOÀN, Chuẩn úy; THOÁT, Chuẩn úy

o   Chính trị viên: SƠN, Thượng úy; ĐỆ

Đại đội 2 / Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 96

o   Đại đội trưởng: NHUẬN, Trung úy

o   Đại đội phó: ĐƯƠNG, Chuẩn úy; DIỆM, Chuẩn úy; THUỘC

o   Chính trị viên: MẬU, Trung úy

Đại đội 3 / Tiểu đoàn 3 – Trung đoàn 96

o   Đại đội trưởng: TƯỚC, Trung úy (Hy sinh)

o   Đại đội phó: KHÁNH, Trung úy; THỊNH, Trung úy; HUYNH, Chuẩn úy; CHÁNH, Trung úy

o   Chính trị viên: LONG, Trung úy (Hy sinh)

c.      Tiểu đoàn 4 – Trung đoàn 96

  • Tiểu đoàn trưởng: LÂN, Đại úy
  • Tham mưu phó: NHO, Thượng úy

Đại đội 15 (Thông tin) – Trung đoàn 96

  • Đại đội trưởng: QUÁT, Thượng úy

d.     Bí danh và số hòm thư

 

Đơn vị

Bí danh

Số hòm thư

Trung đoàn 96

Làng 2 (Ấp 2); Trung đoàn 5 pháo binh; Trung đoàn 40 pháo binh; Đoàn 96 (Nhóm 96); D96

Tiểu đoàn 3

K33; tiểu đoàn 1

86.550YK LZC

Tiểu đoàn 4

K34; tiểu đoàn 2

Tiểu đoàn 5

Tiểu đoàn 52 pháo binh; K35; C52; Z35; Z32; Z32; C.2; C32; Đoàn 52; C135; D1; B52; 725; 820; C112; C35; 232; Tiểu đoàn 1.

86.550YKC2; 9493

7.     Sơ đồ tổ chức Trung đoàn 96 Pháo binh (Bí danh: Làng 2/ Ấp 2)

 

Cơ quan / Đơn vị trực thuộc

Thành phần chi tiết

Trung đoàn bộ

Cơ quan Tham mưu

Ban Tham mưu, Ban Chính trị, Ban Hậu cần

Các đơn vị chuyên môn

Đại đội 15 Thông tin, Đại đội 16 Trinh sát, Trung đội Vận tải

Tiểu đoàn 3 (K33)

Ban chỉ huy tiểu đoàn

Tiểu ban Quân sự, Tiểu ban Chính trị, Tiểu ban Hậu cần

Các đơn vị trực thuộc

Đại đội 1, Đại đội 2, Đại đội 3, Trung đội Thông tin, Trung đội Trinh sát

Tiểu đoàn 4 (K34)

Ban chỉ huy tiểu đoàn

Tiểu ban Quân sự, Tiểu ban Chính trị, Tiểu ban Hậu cần

Các đơn vị trực thuộc

Đại đội 4, Đại đội 5, Đại đội 6, Trung đội Thông tin, Trung đội Trinh sát

Tiểu đoàn 5 (K35)

Ban chỉ huy tiểu đoàn

Tiểu ban Quân sự, Tiểu ban Chính trị, Tiểu ban Hậu cần

Các đơn vị trực thuộc

Đại đội 7, Đại đội 8, Đại đội 9, Trung đội Thông tin, Trung đội Trinh sát


Thứ Ba, 10 tháng 2, 2026

[2.65] Thông tin sơ bộ của quân đội Mỹ về Trung đoàn 208 pháo binh – Bộ chỉ huy 69 pháo binh Miền

2026021062095.62

 

Thông tin sơ bộ về Trung đoàn 208 pháo binh – Bộ chỉ huy 69 pháo binh Miền

1. Lược sử

a. Tháng 01/67, Trung đoàn 208B Pháo binh bắt đầu xuất phát vào miền Nam Việt Nam chiến đấu với quân số khoảng 900 người. 3 tiểu đoàn của trung đoàn di chuyển cách nhau 2 ngày, đi qua Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa và Nghệ An tại miền Bắc. Sau khi ăn Tết tại Nghệ An, trung đoàn tiếp tục hành quân về phía Nam qua Hà Tĩnh, Quảng Bình và băng qua dãy Trường Sơn sang Lào trong tháng 3/67. Trung đoàn đến Kon Tum vào tháng 5/67 sau một tháng ở Lào và đi dọc biên giới Campuchia/Miền Nam đến Phước Long vào đầu tháng 6/67 với 600 quân. Trung đoàn được lệnh tiếp tục đi về phía Nam đến Tây Ninh, và Tiểu đoàn 2, 3 đã đến khu vực Suối Cụt, phía Đông Nam Katum vào tháng 7/67.

Vào giữa tháng 8, một nửa quân số của đại đội 8 và 9 thuộc Tiểu đoàn 3 đã thành lập một đại đội rocket 122mm mang số hiệu V9, được gửi đến Quân khu 4 và phát triển thành một tiểu đoàn rocket.

b. Vào đầu tháng 9/67, Tiểu đoàn 2 và 3 di chuyển đến Bình Long và đóng tại khu vực Đa Bang. Tiểu đoàn 1, đơn vị đã bị lạc đường trong quá trình đi qua Kon Tum, được báo cáo là cuối cùng đã hội quân với trung đoàn vào tháng 10/67, nhưng bị giải thể do tổn thất quân số quá lớn. Số quân còn lại của Tiểu đoàn 1 được bổ sung cho Tiểu đoàn 2 và 3 để bù đắp thiếu hụt. Trong khoảng thời gian tháng 9/10, trung đoàn trực thuộc Bộ chỉ huy Pháo binh 69.

c. Ngày 31/10/67, trung đoàn rời căn cứ dọc suối Đa Bang và tấn công Lộc Ninh. Sau trận Lộc Ninh, trung đoàn trở về căn cứ nghỉ ngơi. Tiểu đoàn 2 tấn công Hớn Quản ngày 8/11, trong khi Tiểu đoàn 3 tấn công căn cứ không quân Quản Lợi. Đầu tháng 12/67, trung đoàn di chuyển đến biên giới Campuchia gần sông Sài Gòn tại dốc Ba Đảo, nghỉ ngơi tại đó khoảng 1 tháng.

d. Sau khi ăn Tết sớm, trung đoàn nhận lệnh vào ngày 27/01/68 rằng họ sẽ hỗ trợ Sư đoàn 9 Việt Cộng trong việc giải phóng các khu vực dân cư của Sài Gòn và Gia Định. Ngày 28/01, trung đoàn di chuyển về phía Củ Chi. Tiểu đoàn 2 pháo kích Củ Chi vào ngày 30/01, và Tiểu đoàn 3 pháo kích vào ngày hôm sau. Cả hai tiểu đoàn sau đó rút vào rừng gần Củ Chi và nghỉ ngơi khoảng 10 ngày. Ngày 12/02, Tiểu đoàn 3 rời rừng và di chuyển đến ngã ba sông Tra và sông Sài Gòn để chuẩn bị pháo kích căn cứ không quân Tân Sơn Nhất. Tiểu đoàn 2 ở lại phía sau tiếp tục tấn công Củ Chi. Tại điểm tập kết, Tiểu đoàn 3 liên lạc với đơn vị V9, và cả hai tiểu đoàn đã pháo kích Căn cứ không quân Tân Sơn Nhất vào ngày 17/02. Ngày 27/02, Tiểu đoàn 3 thực hiện đợt pháo kích thứ hai vào Căn cứ không quân Tân Sơn Nhất bằng rocket. Sau đợt tấn công này, các tiểu đoàn rút về khu vực tập kết sông Tra và phân tán. Khu vực lân cận bị lực lượng Hoa Kỳ càn quét vào ngày 16/03, và Tiểu đoàn 3 chịu tổn thất lớn. Sau đó tiểu đoàn rút về phía Bắc đến khu vực Dương Minh Châu.

e. Vào cuối tháng 3/68, Tiểu đoàn V9 được điều chuyển từ Quân khu 4 về và đổi tên thành Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 208 Pháo binh. Như vậy, một lần nữa Trung đoàn 208 bao gồm 3 tiểu đoàn mang số hiệu 1, 2 và 3. Các tài liệu thu giữ được chỉ ra rằng khoảng ngày 18/04, Tiểu đoàn 1 và 2 được phối thuộc cho Sư đoàn 9. Tiểu đoàn 3 được phối thuộc cho Phân khu 1 với phiên hiệu Tiểu đoàn D9 Pháo binh, nhưng các tài liệu gần đây hơn cho thấy hiện nó là đơn vị trực thuộc Phân khu 1.

f. Trong cuối tháng 4 và đầu tháng 5, Tiểu đoàn D2 tiến hành các cuộc tấn công vào các vị trí quân Mỹ và đồng minh tại Hóc Môn và Tân Bình, Gia Định. Ngày 30/04, Tiểu đoàn 2 di chuyển từ căn cứ, vượt qua sông Sài Gòn và di chuyển về phía Nam. Tiểu đoàn 1 và 2 yểm trợ Sư đoàn 9 trong cuộc Tổng tiến công tháng 5/1968. Ngày 1/5, Tiểu đoàn D1 lần đầu tiên được xác định tại Phân khu 2 qua các tài liệu thu giữ, cách Sài Gòn 11km về phía Tây. Tiểu đoàn 2 sau đó được xác định vào ngày 9/5. Tiểu đoàn 1 lại được xác định vào ngày 11/5 tại hai vị trí. Trong thời gian này, Tiểu đoàn 1 có khả năng đang hỗ trợ Trung đoàn 271 Sư đoàn 9. Tiểu đoàn 1 dường như ở lại khu vực này và được xác định vào ngày 13/6 bởi giấy tờ bị thu giữ.

g. Sau đợt tấn công tháng 5/68, Tiểu đoàn 1 được tin là đã ở lại Phân khu 2 để cung cấp hỏa lực rocket liên tục. Cho đến thời điểm này, Tiểu đoàn 1 hoạt động dưới bí danh tiểu đoàn 1 trung đoàn 28 Pháo binh. Tuy nhiên, trong mùa hè năm 1968, Tiểu đoàn 1 có thể đã lấy phiên hiệu Tiểu đoàn 128 Pháo binh. Các thông tin cho thấy Tiểu đoàn 128 chính là Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 208 bao gồm việc Tiểu đoàn 1-208 không còn được xác định kể từ khi Tiểu đoàn 128 xuất hiện. Tuy nhiên thông tin khác cho biết các đơn vị cấp dưới của Trung đoàn 208 và 96 đang hoạt động tại Tây Ninh, Long An và Bình Dương. Tiểu đoàn 128 dường như ít nhất cũng được phối thuộc cho Phân khu 2, trong khi Trung đoàn 208 dường như vẫn thực hiện một số việc chỉ huy đối với các hoạt động của đơn vị này.

h. Trong khi Tiểu đoàn 128 ở lại Phân khu 2, Tiểu đoàn 2-208 có khả năng đã rút về Chiến khu C, nơi nó được xác định qua giấy tờ bị thu giữ vào ngày 10/10 dọc sông Sài Gòn. Các tài liệu thu giữ được chỉ ra rằng vào cuối năm 1968, Tiểu đoàn 58 Pháo binh đã thuộc quyền chỉ huy của Trung đoàn 208. Dấu hiệu đầu tiên là Thư khen ngợi ngày 13/12/68 từ Trung đoàn 208 gửi một thành viên của Tiểu đoàn D58 vì thành tích xuất sắc trong trận Sóc Con Trăng ngày 7/12/68. Các tài liệu ngày 14 và 30/01/69 củng cố thêm rằng D58 là đơn vị dưới quyền của 208.

i. Bắt đầu từ đầu tháng 1/69, các tài liệu thu giữ cho thấy Trung đoàn 208 bắt đầu sử dụng bí danh F-66 và Trung đoàn 66 Pháo binh. Khả năng hai đơn vị là một được gợi ý bởi việc cùng các tiểu đoàn đó trực thuộc cả hai đơn vị. Ngoài ra, thông tin hạn chế về nhân sự của Trung đoàn 66 cũng khớp với Trung đoàn 208.

j. Ngày 17/5/69, tài liệu thu giữ tại Tây Bắc Núi Bà Đen, xác định Tiểu đoàn D58 và Trung đoàn 208. Trong cùng khu vực đó, ngày 7/7, tài liệu sau một trận giao tranh dẫn đến 21 bộ đội hy sinh lại một lần nữa xác định D58 và Trung đoàn 208. Trung đoàn 88, Sư đoàn 9 Việt Cộng cũng được xác định trong khu vực, cho thấy các thành phần của Trung đoàn 208 đang yểm trợ Sư đoàn 9. Khi Sư đoàn 9 di chuyển vào khu vực An Lộc vào cuối tháng 7 và đầu tháng 8, Tiểu đoàn D58 và Trung đoàn 208 dường như đã di chuyển cùng để hỗ trợ hỏa lực. Ngày 24/8 cách An Lộc 9km về phía Tây Bắc, tài liệu thu giữ xác định các thành phần của Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 208.

2. Có thể như trung đoàn 208 hiện gồm 3 tiểu đoàn: tiểu đoàn 128, 2 và D58. Tiểu đoàn 128 đang hoạt động độc lập tại Phân khu 2. Tiểu đoàn 2 và D58 được cho rằng hiện đang hỗ trợ Sư đoàn 9.

3. Tổ chức

a. Các đơn vị trực thuộc

- Ban chỉ huy.

- Tiểu đoàn 128 trang bị Rocket 107/122mm

- Tiểu đoàn 2 trang bị Rocket 107/122mm

- Tiểu đoàn D58 trang bị Cối 120mm / Rocket 107/122mm

b. Các đơn vị hỗ trợ

- Đại đội 10

- Đại đội 11

- Các đơn vị vận tải, thông tin, và công binh.

Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

[2.64] Sơ lược thông tin của quân đội Mỹ về tiểu đoàn 6 đặc công Tỉnh U1 - Quân khu 7

2026020860092.50

SƠ LƯỢC THÔNG TIN CỦA QUÂN ĐỘI MỸ VỀ TIỂU ĐOÀN 6 ĐẶC CÔNG THUỘC TỈNH U-1 - QUÂN KHU 7

1. Tổng quan

Đầu năm 1969, Quân đội Mỹ đã ghi nhận sự hiện diện của Tiểu đoàn 6 Đặc công tại Quân khu 7.

2. Lịch sử

a. Ngày 12/3/68, Tiểu đoàn 4, Lữ đoàn 305 Đặc công, Quân khu 3, tại huyện Chương Mỹ, được đổi tên thành Đoàn Chi viện 2019 và bắt đầu hành quân vào Miền Nam Việt Nam. Đoàn đến tỉnh Tây Ninh vào ngày 10/7/68 và tại thời điểm đó được đổi tên thành Tiểu đoàn 6, Phòng 16 Đặc công Miền.

b. Vào cuối tháng 6/68, tiểu đoàn chia thành 3 bộ phận:

(1) Bộ phận 1, gồm các Đại đội H15 và H16, di chuyển vào vùng Đồng bằng sông Cửu Long.

(2) Bộ phận 2, gồm các Đại đội H17 và H18, di chuyển đến hoạt động tại chiến trường BIÊN HÒA thuộc Quân khu 7, phía Đông Nam TRẢNG BOM.

(3) Đại đội H19 của Tiểu đoàn 6 được điều về một tiểu đoàn chưa rõ tên thuộc Phòng 16 Đặc công Miền.

c. Có thông tin cho thấy Đại đội C62 của Tiểu đoàn 6 ở lại Tây Ninh cho đến ngày 19/2/69, sau đó di chuyển đến LONG BÌNH, trên đường đi chỉ nghỉ 4 giờ mỗi ngày; ngày 22/11/68, Đại đội 62 nhận lệnh di chuyển đến BIÊN HÒA và được điều về Quân khu 7, Tiểu đoàn 6 đến khu vực SUỐI NHAN vào cuối tháng 12/68. Như vậy, có vẻ như trong khoảng thời gian từ tháng 12/68 đến tháng 2/69, Tiểu đoàn 6 Đặc công đã di chuyển vào Quân khu 7.

d. Đầu tháng 4/69, theo lệnh của Quân khu 7, Tiểu đoàn 6 Đặc công trở thành đơn vị trực thuộc Tỉnh U-1. Gần đây có một số thông tin về Tiểu đoàn 3 của Tỉnh U-1, có thể đây là một tên gọi khác của Tiểu đoàn 6 Đặc công.

e. Tiểu đoàn 6 đã được xác nhận qua 2 lần giao tranh. Một lần vào ngày 27/2, khi khoảng 25 bộ đội của Đại đội C62 đụng độ với bộ binh và trực thăng vũ trang Hoa Kỳ; và vào ngày 5/6 khi Đại đội C62 phối hợp với Tiểu đoàn D2 Đặc công tấn công một vị trí đóng quân đêm của Tiểu đoàn 11 dù SG.

3. Tổ chức và Quân số

a. Tiểu đoàn 6 hiện gồm 3 đại đội: C62, C64 và C66, quân số của Tiểu đoàn 6 như sau: 131 người (tháng 11/68); 129 người (tháng 12/68); 133 người (tháng 1/69); 93 người (không tính C64) vào tháng 2 và tháng 3/69. Thông tin tháng 7/69, quân số của tiểu đoàn khoảng 80 người, bao gồm cả Đại đội C64.

b. Ban chỉ huy tiểu đoàn tính đến tháng 7/69 gồm: Tiểu đoàn trưởng: KEN; Tiểu đoàn phó: YÊN; Chính ủy: HẰNG; Phó Chính trị viên 1: ĐỊNH; Phó Chính trị viên 2: CHƯƠNG; Sỹ quan Tham mưu và Quân y: HÒA.

c. Chỉ huy các đại đội:

Chức vụ

Đại đội C62

Đại đội C64

Đại đội C66

Đại đội trưởng

THẮM

ĐÔNG

KHÔI

Đại đội phó

HOẠT

TUYẾT

HÒA

Chính trị viên

ĐỨC

MÔN

BÔI

Chính trị viên phó

ĐOÀN

CỬU

ĐÀO

Quân y

VÂN

CHIẾU

Quản lý

TƯƠNG / PHÚC

PHÚC

TRIỀU

4. Các hoạt động khác

a. Tháng 11/68, Tiểu đoàn D6 phối hợp với một đơn vị chưa rõ tên tấn công sân bay BÀ CHIÊM.

b. Tháng 1/69, tiểu đoàn phối hợp với lực lượng địa phương huyện TRẢNG BOM tấn công ấp NÔNG.

c. Ngày 22/2/69, tiểu đoàn chia thành 2 bộ phận. Đại đội C64 tấn công Trại tù binh BIÊN HÒA. Các đại đội C62 và C66, cùng với Tiểu đoàn 2 Đặc công thuộc Tỉnh U-1, tấn công kho xăng dầu LONG BÌNH. Mỗi người thuộc đơn vị C62 mang theo 35 khối thuốc nổ cho mục đích này. Mục tiêu thứ yếu của họ là bãi đáp trực thăng ở khu vực phía Đông Bắc của Tổng kho LONG BÌNH.

d. Đêm ngày 6/6/69, Tiểu đoàn D6 tấn công căn cứ của Tiểu đoàn 11 dù SG tại khu vực THIỆN TÂN. Căn cứ này đã được nghiên cứu qua sa bàn vào tháng 4/69. Các nhiệm vụ được phân công như sau với sự hỗ trợ của 7 rocket 107mm:

(1) C62 tấn công từ phía Tây Bắc, phá hủy 2 trong số 4 vị trí pháo và các dãy nhà lính.

(2) C64 tấn công từ phía Đông.

(3) C66 bắn 5 tên lửa 107mm vào mục tiêu để bắt đầu cuộc tấn công. Vào ngày 5/6, Tiểu đoàn D6 di chuyển qua sông RẠCH ĐÔNG thành 2 bộ phận. Sau khi chiếm lĩnh vị trí chiến đấu lúc 00:00 ngày 6/6, tiểu đoàn chờ sự hỗ trợ hỏa lực từ C66. Tuy nhiên, C66 đã không đến và trận đánh bắt đầu mà không có hỏa lực hỗ trợ. Sau 15 phút giao tranh ác liệt, Tiểu đoàn D6 buộc phải rút lui do pháo binh và không kích hạng nặng của đối phương. Kết quả, 2 thành viên tiểu đoàn tử trận và 2 người bị thương.

5. Nhiệm vụ

Quân Mỹ cho rằng Tiểu đoàn 6 Đặc công có nhiệm vụ thực hiện các cuộc tấn công và tấn công hỏa lực tại khu vực BIÊN HÒA, phối hợp chặt chẽ với các Tiểu đoàn Đặc công D1 và D2 của Tỉnh U-1.